Thứ Sáu, 10 tháng 8, 2012

Miếu trinh nữ, di tích thời vua Thiệu Trị


Tại xóm Ba Dầu, làng Mỹ Đông cũ, nay thuộc ấp Mỹ Thuận, xã Long Tiên, H.Cai Lậy, Tiền Giang có một di tích xưa, được xây cất từ năm 1846, người dân địa phương gọi là Dinh Cô.

Dinh Cô là cách gọi dân gian của một cái phường (miếu), thờ một cô gái tên Nguyễn Thị Liệu. Trong quyển Nam kỳ phong tục nhơn vật diễn ca (quyển 2, tr.66), Nguyễn Liên Phong xuất bản năm 1909, có ghi:
Nguyễn Thị Liệu, trinh nữ phường/Nguyên xưa nàng ấy bị cường hãm dâm/
Khi đó tuổi chừng mười lăm/Mình không chịu nhục mạng lầm tay gian/
Vua ban cho tấm biển vàng/Lập phường trinh nữ tại làng Mỹ Đông.
Theo sách Đại Nam liệt truyện thì Nguyễn Thị Liệu người thôn Mỹ Đông, tổng Lợi Mỹ, huyện Kiến Đăng, là một cô gái xinh đẹp, năm 16 tuổi theo cha qua Kompong Chàm buôn bán. Chẳng may có một cường hào tên Thạch Giao bắt hãm hiếp. Cô không chịu ô nhục nên đã cắn lưỡi tuẫn tiết. Tương truyền sau đó cô hiển linh hóa thành thần dẫn đường và báo mộng cho quan quân nhà Nguyễn đánh thắng nhiều trận dẹp loạn, giữ biên cương.
Vào năm Thiệu Trị thứ 5 (1846), cô Nguyễn Thị Liệu được ban tinh bảng (bảng vàng), trên khắc dòng chữ ca tụng:
Sắc tứ Nguyễn Thị Trinh Nữ
Thị Liệu quán Định Tường tỉnh, Kiến An phủ, Kiến Đăng huyện, Lợi Mỹ tổng, Mỹ Đông thôn nữ dã; Thủ trinh dĩ tử bất di cường bạo sở ô; Đặc tứ tinh bảng dĩ vi thiên hạ chi trinh dã khuyến.
Thiệu Trị ngũ niên, thập nhị nguyệt, cát nhật.
Tạm dịch:
Sắc tứ Nguyễn Thị Trinh Nữ
Thị Liệu là gái quê quán thôn Mỹ Đông, tổng Lợi Mỹ, huyện Kiến Đăng, phủ Kiến An, tỉnh Định Tường; Giữ trinh mà chết không để cho bọn cường bạo làm nhục; Nay đặc biệt ban cho bảng vàng để làm gương trinh liệt khuyến khích trong thiên hạ.
Ngày lành, tháng chạp năm Thiệu Trị thứ V. (*)
Sau đó, triều đình còn sai Công bộ trích 10 lạng bạc và đem gạch vào xây dựng một cái phường treo tấm bảng vàng, ngoài cửa có đặt câu đối ca ngợi:
Thánh đức bao tinh dụng thị tiết liệt khả khuyến/Tiên hương cảm phát, bất vi cường bạo sở ô. (Thánh đức ban bảng vàng, làm gương tiết liệt khuyến khích/Tánh trời sớm cảm phát, nhục nhơ không để người làm).

Bảng vàng sắc tứ Nguyễn Thị Trinh Nữ

Bên trong gian thờ - Ảnh: H.P
Theo Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ (tập 7, NXB Thuận Hóa, Huế 1993), quy chế của phường là “một ngôi nhà có lòng căn 4 thước 5 tấc (đơn vị đo thời Nguyễn 1 thước dài 0,705 mét), đều dùng gỗ và gạch. Ở khoảng giữa trên sóng nóc nhà làm hình vòm tròn đỏ như ngọn lửa bốc lên, chỗ góc nhà đều làm hình con cù giao, vách gạch ở tả hữu đều đắp vẽ đàng hoàng. Hoành phi cao 1 thước 7 tấc, phía trên khắc hai chữ Sắc tứ...”. Theo lời kể của các bô lão ở địa phương, phường Trinh nữ ở đây gần giống với quy chế mô tả nhưng đặc biệt trong vách hậu ngoài hình vòm tròn tượng trưng cho mặt trời, hai bên còn có cặp phụng vẽ rất đẹp ôm lấy vòm tròn, bên dưới đặt một cái ghế thờ.
Năm 1904, cơn bão năm Thìn làm sập ngôi miếu, người dân địa phương góp công góp của sửa lại nguyên trạng. Mấy năm sau, Nguyễn Liên Phong qua đây còn nhắc: Thiện nam tín nữ bổn hương/Y theo sửa lại tỏ tường như xưa. (Theo Nam kỳ phong tục nhơn vật diễn ca).
Đến năm 1930, trong tài liệu khảo cứu địa chí của người Pháp cũng còn ghi chú “Ở đền thờ này người ta thấy có khắc chữ Nguyễn Thị Trinh Nữ hiền đức Thiệu Trị ngũ niên (Theo Monographie de la province de Mytho 1930)”.
Giá trị ngôi miếu không phải ở chỗ quy mô hoành tráng hay những đồ tự khí quý báu mà nó là dấu ấn lịch sử văn hóa của cha ông. Việc ban tặng bảng vàng và xây dựng ngôi miếu ở đầu làng là nhằm xiển dương giá trị đạo đức cho người đời noi theo. Vào năm Minh Mạng thứ 3 (1822) vua đã ban dụ khuyến khích tôi trung, con hiếu, gái tiết, trai nghĩa, nhấn mạnh “Từ xưa nêu cao người hiếu, biểu tượng người liêm là để rèn tục dân, sáng tỏ giáo hóa”. Cho nên người đời sau, khi ngang qua miếu Trinh nữ làng Mỹ Đông cũng đã làm nhiều bài thơ ca ngợi: Vi sanh tiên sỉ, kế vi manh/Bất ngữ tầm thường, liệt nữ trinh/Vị bạo sở ô kỳ vãn tiết/Sương tàn hà khẳng khứ xuân thanh/Hồn quy thiên thượng càn khôn lão/Phách lạc sa trường thảo mộc linh/Cảm phát thiên lương, Hoàng thượng phổ/Thệ chơn thiên cổ nguyệt thu minh. (Trinh nữ phường hoài cảm - khuyết danh)
Trải qua hàng trăm năm tồn tại, ngôi miếu đã bị người đời sau làm mất dấu tích xưa.
Vào năm 2008, xã Long Tiên tiến hành đắp đê, bê tông hóa con đường ngang qua miếu. Bấy giờ dân địa phương tổ chức dời ngôi miếu đã đập phá toàn bộ kiến trúc cũ. Số gạch có chữ giáp, chữ đinh xây dựng thời vua Thiệu Trị bị vùi chôn xuống nền. Bên cạnh, người ta còn đưa vào đây những tác phẩm như “cửu phẩm liên hoa” làm bình phong cùng hoành phi “Phật quang phổ chiếu” mang nội dung Phật giáo và một số vật dụng quần áo thuộc tín ngưỡng thờ Bà Chúa xứ vào thờ, khiến ngôi miếu trở thành một trú sở hỗn hợp các dòng tín ngưỡng và tôn giáo.
Thật ra việc trùng tu phục chế di tích này không khó, bởi quy mô ngôi miếu khá nhỏ, đồng thời hình ảnh và quy chế trang trí cũng còn được lưu giữ. Vấn đề ở chỗ ai sẽ chịu trách nhiệm bảo tồn di tích của tiền nhân. Và quan trọng hơn là kế thừa và phát huy truyền thống “trung, hiếu, tiết, nghĩa” như cha ông ta từng làm.

Giai thoại quanh mộ ông Tang


Ở xã Thanh Hòa (H.Cai Lậy, Tiền Giang) có một con rạch mang tên rạch Ông Tang. Theo tài liệu lịch sử địa phương, ông Tang tên thật Lê Phước Tang, là một nhân vật gắn với nhiều huyền thoại trong vùng.

Ông Tang nguyên là cai quản đồn điền, dẫn đoàn người từ miền ngoài vào Nam khai hoang lập nghiệp, lập nên làng Hòa Thuận (nay thuộc xã Long Khánh, H.Cai Lậy). Nhờ chí thú làm ăn, chẳng bao lâu ông trở thành người giàu có. 
Mặc triều phục... đi ruộng
Giai thoại dân gian kể rằng lúc chúa Nguyễn Phúc Ánh bị Tây Sơn truy đuổi đã chạy đến vùng này. Sau một ngày chịu đói khát, nhờ mấy cụ già chỉ bảo, đoàn người đã tìm đến nhà ông Lê Phước Tang và lưu lại đây mấy hôm. Trước khi giã từ, Nguyễn Ánh đem một số hành lý gửi lại nhà ông Tang. Ngoài ra, ông Tang còn cống hiến một số tiền lớn cho chúa. Hành động hào hiệp của chủ nhà làm chúa Nguyễn Ánh cảm động, phong cho ông Tang làm Khâm sai Cai cơ.
 Theo dấu người xưa - Mộ ông Tang và giai thoại xiềng mả 1
Ngôi mộ ông Tang bị rêu phong, cỏ lấp - Ảnh: H.P
Một thời gian sau, hai người con trai của ông Tang là Lê Phước Tánh và Lê Phước Khỏa (tục gọi là cậu Gương, cậu Sen) tò mò mở gói hành lý của Nguyễn Ánh gửi lại ra xem. Thấy trong số đồ đạc có bộ triều phục đẹp mắt, hai cậu công tử bèn mượn tạm để mặc đi... coi ruộng! Những người làm thuê thấy vậy khuyên can: “Hai cậu không nên vô lễ với người trên. Biết đâu sau này ngài phục quốc thì tội hai cậu không nhỏ”. Gương và Sen khinh khỉnh trả lời: “Thằng Nguyễn Ánh dở ẹc. Chừng nào con c. lỏ lợi da thì nó mới phục nghiệp được”. Khi ông Tang mất, hai người con lại lấy bộ triều phục khâm liệm cho cha.
Năm 1802, Nguyễn Ánh lên ngôi vua, gửi chiếu chỉ tìm Lê Phước Tang để đền ơn, nhưng vợ chồng ông đã qua đời. Lúc bấy giờ trong làng có người thù oán bèn dâng sớ tố cáo “hành động khi quân” của hai cậu con trai Gương và Sen. Vua Gia Long tức giận ra lệnh tru di tam tộc và tịch thu toàn bộ gia sản của gia đình họ Lê. Chẳng những thế, vì sanh con mà không biết dạy nên Lê Phước Tang còn bị tội đánh roi và xiềng mộ. Ngoài ra, nhà vua lại cho trồng cây thị trước mộ ngụ ý khinh khi miệt thị.
Hiện nay, trong ngọn rạch Ông Tang ở ấp Hòa Trí, xã Long Khánh, còn khu mộ của vợ chồng Lê Phước Tang. Khu mộ rộng khoảng 200 m2, chôn theo nguyên tắc nam tả nữ hữu, quynh thành bao quanh và bốn trụ hình búp sen (hiện đã gãy mất hai trụ) cùng bình phong hậu và bình phong tiền. Đặc biệt, cạnh khu mộ còn một cây thị cổ thụ. Theo một số bô lão ở địa phương, có lẽ đây là cây thị còn sót lại trong số cây trồng làm hàng rào bao quanh khu mộ. Cây thị có tuổi thọ hàng trăm năm này hiện nay còn rất hiếm ở đất Nam bộ. Gần đây có tin một số “kiểng tặc” đã tới dòm ngó, song không dám bứng vì nó quá to, đồng thời gốc rễ ăn sâu vào trong quynh thành.
 Theo dấu người xưa - Mộ ông Tang và giai thoại xiềng mả 2
Cây thị hơn 200 năm tuổi bên mộ ông Tang - Ảnh: H.P
Giai thoại xiềng mả
Hai ngôi mộ ông và bà Lê Phước Tang được xây bằng chất liệu vôi và ô dước theo hình lá sen úp. Những đường gân lá sen trải qua hàng trăm năm vẫn còn hằn rất rõ nên có người tưởng tượng là dây xích mộ.
Theo chữ khắc trên bia mộ thì ông Tang mất vào tháng 10 năm Kỷ Hợi, tức năm 1779, nhưng rất tiếc phần năm sinh đã bị sứt mẻ, không đọc được. Hai người con đứng ra lập mộ cha là Lê Phước Tánh và Lê Phước Khỏa. Trên bia mộ còn có ghi dòng chữ “lão tiên sanh”, ắt hẳn ông Tang mất khi tuổi đã cao. Nếu vậy, so sánh thời điểm năm ông Tang mất thì lúc đó Nguyễn Phúc Ánh chưa lên ngôi thì lấy đâu ra triều phục?
Theo nhà nghiên cứu Trương Ngọc Tường thì dòng họ Lê Phước là thân tộc bên ngoại của chúa Nguyễn Ánh, vì vậy việc ông ghé nhà ông Tang lúc bôn tẩu rất có thể xảy ra. Còn Khâm sai Cai cơ là chức vụ “đặc tấn”. Riêng việc ông Tang bị tội có thể là do hai người con trai về sau thân Tây Sơn. Năm 1785, sau trận Rạch Gầm - Xoài Mút, quân Tây Sơn đã làm chủ nhiều làng dọc theo sông Ba Rài, nên có thể hai ông này đã hỗ trợ hoặc cung cấp lúa gạo cho quân Tây Sơn. Đến năm Đinh Mùi (1788), quân của chúa Nguyễn trở lại đánh đuổi quân của Ngự úy nhà Tây Sơn đóng tại vàm Ba Rài, ra lệnh cho Tiền quân Tôn Thất Hội đắp đồn Mỹ Trang và Thanh Sơn (nay thuộc khu vực thị trấn Cai Lậy).
Như vậy, việc làm của hai người con ông Tang đối với chúa Nguyễn Ánh là hành động “bất trung”. Vì thế nên ông Tang bị vua Gia Long kết tội “dưỡng bất giáo”, ra lệnh xiềng mả và tịch thu ruộng đất cấp lại cho con cháu Tiền quân Tôn Thất Hội. Số ruộng đất này theo thống kê trong Địa bạ Minh Mạng năm 1836 có tới 125 mẫu. Dân gian gọi là “đồng quan”. Đến đời vua Tự Đức, “đồng quan” được giao khoán cho một người có thế lực là ông Trâu Văn Điền coi sóc, lập kho chứa lúa thuế tạm trữ, trước khi chuyển về Huế. Ở gần vàm rạch Ông Tang còn địa danh Bến Kho và xa hơn một chút về phía nam có con rạch mang tên Bầu Điền.
Chắc chắn hai người con trai của ông Tang bị tội vì đã theo Tây Sơn, song dòng họ Lê Phước vẫn chưa tuyệt tự. Tộc này vẫn còn con cháu bàng hệ, hằng năm con cháu khắp nơi vẫn về tảo mộ. Tuy nhiên, giai thoại dân gian đã lấn át sự thật lịch sử nên vào năm 1985, có người tin rằng áo mão tư trang của vua Gia Long ắt hẳn nằm trong mộ, nên đã lén đào mộ ông Tang để tìm báu vật. Vì ngôi mộ quá kiên cố nên kẻ trộm phải đào hầm ngầm xuyên phía bên hông để tìm moi quan tài. Nhưng kẻ trộm đã thất vọng vì ngoài hài cốt đã hóa thành bùn đất, tài sản trong mộ chỉ là một chiếc ống ngoáy bằng đồng và một chiếc lược sừng dành cho nam giới thời xưa.
Mộ ông Lê Phước Tang là một ngôi mộ cổ, gắn với lịch sử thời khai hoang lập làng vùng Tiền Giang nói riêng và Nam bộ nói chung, song hiện thời đã trở thành phế tích. Thiết nghĩ cơ quan chức năng cần lưu ý đưa vào danh sách bảo vệ chứng tích của tiền nhân.

Huyền thoại về chiếc đại hồng chung


Nhiều truyền thuyết về vua Gia Long - Nguyễn Ánh thực hư khó biết, nhưng có những câu chuyện mang tính ngẫu nhiên có thể giải thích được, như chuyện cá sấu cản đường, rái cá nâng thuyền...

Riêng chuyện đại hồng chung chùa Sắc tứ Linh Thứu giúp ông trốn sự truy đuổi của Tây Sơn vẫn còn gây nhiều tranh cãi.
 Theo dấu người xưa - Huyền thoại về chiếc đại hồng chung
Biển Sắc tứ Linh Thứu tự - Ảnh: Hoàng Phương
Ngôi chùa 3 lần được sắc tứ
Sắc tứ Linh Thứu nguyên thủy là ngôi chùa mục đồng nằm giữa khu rừng hoang thuộc làng Tân Thạnh Trung, nay thuộc ấp Chợ, xã Thạnh Phú, H.Châu Thành, Tiền Giang.
Vào khoảng giữa thế kỷ 18, vị tiểu tăng Nguyễn Phước Chánh (? -1816) đến trụ trì, về sau trở thành hòa thượng pháp hiệu Nguyệt Hiện, pháp danh Thiệt Thanh. Lúc này ngôi chùa có tên là Long Nguyên tự. Nhà sư Nguyễn Phước Chánh vốn thuộc dòng dõi chúa Nguyễn, vì vậy năm Nguyễn Phúc Ánh bị Tây Sơn truy đuổi đã ghé lại chùa tá túc. Tương truyền chúa Nguyễn ở được ít hôm nhưng do sự truy đuổi gắt gao của quân Tây Sơn nên nhà sư tìm cách đưa chúa đến trú ngụ ở chùa Quang Long (ngôi chùa này cũng được ngự tứ, hiện nay tọa lạc ở xã Tam Bình, H.Cai Lậy, Tiền Giang).
Nhờ công trạng đó nên vào năm Gia Long thứ 11 (1812), hòa thượng Nguyệt Hiện được phong Tăng Cang, chùa Long Nguyên được “sắc tứ” và đổi tên là Sắc tứ Long Tuyền tự, vua còn cấp cho 10 dân phu chăm sóc quét dọn chùa. Khi hòa thượng viên tịch, triều đình ban thụy hiệu là “Mẫn Huệ hòa thượng”.
Sau đó, hòa thượng Từ Lâm kế thế trụ trì. Năm 1830, nhân lễ Tứ tuần Đại khánh của vua Minh Mạng, triều đình triệu Từ Lâm về kinh đô Huế để tụng kinh chúc thọ. Sau khi lễ nghi hoàn tất, Bộ Lễ tổ chức sát hạch, hòa thượng Từ Lâm và 50 cao tăng trúng tuyển được cấp “giới đao độ điệp” (tức dao cạo tóc và tờ điệp chứng nhận). Dịp này, triều đình đổi hiệu “Sắc tứ Long Tuyền tự” thành “Sắc tứ Linh Thứu tự”.
Khoảng năm 1890, Sắc tứ Linh Thứu tự được hòa thượng Trà Chánh Hậu trùng tu khá quy mô. Đến đời Bảo Đại, chùa Linh Thứu được sắc tứ lần thứ ba.  
Huyền thoại về chiếc đại hồng chung
Sắc tứ Linh Thứu tự là một trong những ngôi chùa xưa nhất ở vùng Tiền Giang, nhưng có lẽ chùa nổi tiếng là nhờ huyền thoại về chiếc đại hồng chung. Địa phương chí tỉnh Mỹ Tho năm 1936 ghi lại huyền thoại này như sau: “Tại làng Thạnh Phú, cách Mỹ Tho 7 km, có một kỷ niệm lạ kỳ thời ông tẩu quốc. Tại đó có một ngôi chùa rất cổ được phong sắc tứ. Nguyễn Ánh bị Tây Sơn đuổi, chạy trốn vào Nam kỳ, ông đã trốn ở nhiều tỉnh để khỏi bị bắt và đến ngôi chùa này. Hòa thượng Dung, trụ trì ngôi chùa, một mình lật đại hồng chung để giấu kín vua vào bên trong. Đội quân Tây Sơn đến ngay lúc ấy cũng không ngờ sự có mặt của nhà vua. Bởi vì mạng nhện giăng đầy xung quanh chùa làm quân lính tưởng rằng không người nào vào nơi tôn nghiêm này. Sau khi quân Tây Sơn đi rồi, hòa thượng Dung mời nhà vua ra khỏi chuông và lấy ghe chài hộ tống vua đưa qua Long Hồ (Vĩnh Long). Khi Gia Long lên ngôi, ông cấp cho chùa này tấm biển bằng gỗ quý có khắc chữ Long Tuyền tự để tỏ lòng tri ngộ” (1). Câu chuyện đặc biệt này các tài liệu lịch sử chùa chiền ở Nam bộ trước đó chưa thấy đề cập.
 Theo dấu người xưa - Huyền thoại về chiếc đại hồng chung  2
Chiếc đại hồng chung - Ảnh: Hoàng Phương
Lần theo câu chuyện, có tài liệu cho rằng vào năm 1929, chùa Linh Thứu có một nhà sư đam mê nghề làm báo rồi thiếu nợ bèn đem… đại hồng chung qua Bến Tre bán. Sau đó bị dư luận phản đối nên tìm cách chuộc về, trùng dịp vua Bảo Đại sắc tứ chùa lần thứ ba, ông lập giới đàn lên làm hòa thượng, trong lúc cao hứng đã tạo ra giai thoại chúa Nguyễn Ánh từng trốn trong đại hồng chung kể cho mọi người nghe. Và huyền thoại ấy được những người tham dự lưu truyền rồi ghi vào tài liệu.
Chiếc đại hồng chung hiện còn lưu giữ tại chùa. Theo nhà nghiên cứu Trương Ngọc Tường, chuông này được đúc vào năm 1805. Trên thân chuông còn khắc dòng chữ “Thiên vận Ất Sửu niên (năm 1805), tứ nguyệt cát tạo; Long Nguyên tự bổn đạo chú tạo hồng chung”. Điều đó chứng tỏ, chuông được đúc trước khi chùa đổi tên thành Long Tuyền, đồng thời sau khi vua Gia Long lên ngôi đến 3 năm. Do vậy, giai thoại nói chúa Nguyễn Ánh từng trốn trong chuông như đã mô tả trong nhiều tài liệu từ năm 1936 đến nay hoàn toàn phi lý. Hơn nữa, quả chuông quá nhỏ, không thể chứa được một thanh niên cỡ chúa Nguyễn lúc bôn tẩu được.
Ngoài ra, người ta còn thấy trên chuông có một dòng chữ khác “Gia Long thập nhất niên tặng phong Sắc tứ Linh Thứu tự”. Theo các bô lão, đây là dòng chữ do hội tề làng Thạnh Phú khắc thêm vào lúc chuộc được quả chuông từ Bến Tre đem về. Có lẽ hội tề làng xưa cũng không rành lịch sử ngôi chùa, bởi vào năm Gia Long thứ 11, chùa Sắc tứ Linh Thứu vừa mới được đổi tên từ Long Nguyên tự thành Sắc tứ Long Tuyền tự.
Ở đất Nam bộ, các huyền thoại, giai thoại về chúa Nguyễn Ánh trong thời gian bị Tây Sơn truy đuổi khá nhiều. Từ những chuyện khá bình dân như chúa Nguyễn Ánh ăn trái bần chua với mắm sống rồi đặt tên cho cây bần là thủy liễu, đến những chuyện ly kỳ như chuyện cá sấu đỡ trâu, cứu ông thoát hay kỳ đà lội qua sông chặn đường... Trong đó, có nhiều chuyện được tập hợp trong bộ tiểu thuyết lịch sử Gia Long tẩu quốc của Tân Dân Tử xuất bản hồi năm 1930. Các huyền thoại Nguyễn Phúc Ánh lánh nạn Tây Sơn ở các chùa cũng không ít, như chùa Trường Thọ, chùa Long Huê (ở Gò Vấp, TP.HCM), chùa Thiên Tôn (Lái Thiêu, Bình Dương) hay xa hơn là chùa Sắc tứ Tam Bảo (Rạch Giá, Kiên Giang).
Lịch sử đẻ ra huyền thoại, nhưng huyền thoại không phải là lịch sử. Điều này những người viết sử nên cẩn trọng kẻo làm “nhiễu sóng” các thế hệ mai sau.

Thứ Tư, 20 tháng 6, 2012

Người phụ nữ mang chứng bệnh lạ

Đã 36 tuổi, nhưng thân hình chị Bùi Thị Thanh Nga, ngụ ấp Thạnh Hòa, xã Long Hưng, huyện Châu Thành, Tiền Giang, nặng chỉ chừng hơn 30kg. Trong đó, riêng khối bướu khổng lồ mà chị mang trên người hàng chục năm nay ước chừng hơn 5kg.
“Khi mới sinh ra thì cháu đã mắc phải chứng bệnh lạ. Lúc đầu thấy trên đùi phải của cháu có một cái bớt đen dài chừng 5cm và rộng khoảng 3cm. Khi cháu được 19-20 tuổi thì cái bớt đen đó bắt đầu lớn dần ra. Nhưng khoảng 5 năm trở lại đây thì cái bướu đó lớn rất nhanh, đồng thời thân hình cháu cũng ngày càng gầy guộc và đen sạm”, ông Bùi Văn Trước, 75 tuổi, cha của chị Nga kể.

 Nói về căn bệnh lạ, chị Nga cho biết mấy chục năm qua chị luôn sống trong khổ sở vì hể trời lạnh thì bị đau nhức, không ngủ được. Đi lại thì rất khó khăn vì cái chân ngày càng lớn ra. Đêm ngủ chị không thể nằm ngửa được vì cái bướu lớn đó bắt đầu từ dưới mông chạy dài xuống bắp chân. Mỗi khi muốn trèo lên giường thì chị phải dùng tay để đưa cái chân lên trước.

Do mang chứng bệnh như vậy nên nhiều năm nay chị Nga chỉ quanh quẩn ở trong nhà. Mẹ chị mất sớm nên mọi sinh hoạt đều phải nhờ cha chị giúp đỡ, kể cả nấu ăn, vệ sinh, tắm giặt. Ngoài khối bướu ở đùi, khắp người và tay, chân chị Nga đều có rất nhiều mụn ruồi và những bớt đen nhỏ khiến toàn thân và gương mặt của chị có màu đen sạm trông hết sức khắc khổ.

Cách đây 4 năm, gia đình có dành dụm được ít tiền và đưa chị Nga lên TPHCM để khám bệnh. Nhưng chị kể, khám xong thì hết giờ, nhà thuốc bệnh viện đóng cửa. Thế là người anh đưa chị về luôn mà không mua được thuốc, cũng không hiểu được là bị bệnh gì. Về nhà, mỗi khi chị lên cơn đau nhức thì người nhà cầm cái toa đó ra chợ mua thuốc uống cho đỡ nhức.

Gia đình chị Nga có 4 anh em, 3 người trai đều đã lấy vợ, ở riêng và đều có hoàn cảnh nghèo túng nên không giúp gì được. Hiện chị Nga và người cha sống trong căn nhà tình nghĩa do chính quyền địa phương cấp cách đây chừng 10 năm. Nguồn sống chủ yếu của hai người nhờ vào lương hưu của ông Trước. Thỉnh thoảng mấy người anh có cho năm, mười lít gạo hoặc vài ba chục ngàn đồng. Vì hoàn cảnh quá nghèo nên lâu nay chị không dám nghĩ đến việc đi khám bệnh.                                                                                                             

Thứ Hai, 4 tháng 6, 2012

Người có trái tim bên phải

Đó là ông Huỳnh Văn Ẩn, 79 tuổi, ngụ số nhà 61, khu 2, thị trấn Cái Bè, huyện Cái Bè, Tiền Giang. Ông Ẩn kể: “Mấy tháng nay tôi thấy trong người thường hay bị mệt, hôm đó gia đình đưa tôi tới Bệnh viện đa khoa Tiền Giang để khám bệnh. Bác sĩ đặt ống nghe vào ngực tôi hồi lâu rồi ngạc nhiên hỏi hồi đó giờ bác có khám tim lần nào chưa? Tôi trả lời là chưa. Thế là ổng rà tới rà lui cả chục lần mà không thấy nên lại nói “Ủa, vậy chớ trái tim của bác ở đâu mà không có… ở đây?” Cuối cùng ổng kêu tôi nằm nghiêng qua một bên, rốt cuộc tim của tôi nằm bên phải”.

Vợ chồng ông Ẩn sống bằng nghề thợ may đã hơn 40 năm. Gia đình ông có 5 người con, người con lớn năm nay đã 53 tuổi. Ông Ẩn cho biết trước giờ ông vẫn ăn uống, sinh hoạt, lao động bình thường. Xưa nay thỉnh thoảng cũng có đi khám bệnh, đặc biệt là cách đây 2 năm ông có nằm ở Bệnh viện đa khoa Tiền Giang hết nửa tháng vì bị viêm phế quản, nhưng ông chưa từng biết được trái tim của mình nằm ở bên phải, không giống như  mọi người. “Từ nhỏ đến giờ tôi vẫn ăn, ngủ, sinh hoạt bình thường, bửa củi cũng được. Chỉ 3 năm trở lại đây thỉnh thoảng tôi thấy hơi bị mệt nên nghỉ nghề may. Ăn vô cũng bị mệt, đi tới đi lui cũng thấy mệt nên mỗi lần ăn chỉ một chén cơm. Sau khi phát hiện trái tim nằm ngược, tôi không sợ mà chỉ hơi giật mình. Còn tụi nhỏ ở xóm này thì bảo là tôi có trái tim… Tỷ Can”, ông Ẩn hóm hỉnh.
Người phát hiện ông Ẩn có trái tim nằm bên phải là bác sĩ Nguyễn Văn Quân, Trưởng khoa nội B Bệnh viện đa khoa Tiền Giang. Bác sĩ Quân cho biết, trường hợp của ông Ẩn bị đảo lộn ngũ tạng, ngoài trái tim nằm bên phải còn kéo theo bao tử và ruột đều nằm chệch về bên phải. Muốn kiểm tra việc này thì phải khám tổng quát để biết được bị lệch ở mức độ nào. Nhưng do bệnh nhân bị bệnh phổi mãn tính nên hôm đó bệnh viện chỉ chụp phổi thôi. 
Theo bác sĩ Quân thì trường hợp như ông Ẩn trên thế giới có tỉ lệ rất hiếm. “Tôi làm chuyên khoa cũng đã lâu nhưng trước giờ lần đầu tiên mới gặp trường hợp của ông Ẩn, nên cũng thấy bất ngờ. Lúc đầu tôi nghe tim nhưng không thấy tim ở đâu. Dò tới dò lui một hồi, khi xem lại phim chụp phổi thì phát hiện tim của ông nằm ở bên phải”, bác sĩ Quân cho biết.