Thứ Năm, 5 tháng 9, 2013

Công trình tiền tỉ, cổng bằng nẹp tre

Chuyện xảy ra ở đình Đồng Thạnh, tọa lạc tại ấp Lợi An, xã Đồng Thạnh,  huyện Gò Công Tây, Tiền Giang.
Theo người dân địa phương thì vùng Đồng Sơn ngày xưa có hai ngôi đình, gồm Đồng Sơn đình thị và Đồng Sơn đình Trung. Trong đó Đồng Sơn đình thị (còn gọi là đình Rạch Lá) có niên đại xưa nhất. Vào năm 1864, khi Pháp đánh Gò Công, Đồng Sơn đình thị bị sập, mấy lá sắc phong thời vua Tự Đức đã mất hoặc bị cháy. Sau đó, quân viễn chinh Pháp chiếm ngôi đình làm tháp canh. Khoảng đầu thế kỷ 20, ông Huỳnh Ngọc Khiêm cắt một phần đất lập làng Trường Xuân, rồi mấy năm sau họ Huỳnh cất một đình cho làng này. Nhưng đến năm 1915 thì làng Trường Xuân và làng Bình Sơn bị chính quyền thực dân nhập vào Đồng Sơn. Vì vậy đình vừa cất xong thì phải đổi tên là Đồng Sơn đình trung để phân biệt với Đồng Sơn đình thị cũ. Năm 1979, xã Đồng Thạnh được thành lập từ một phần xã Đồng Sơn và một phần xã Thạnh Trị và tên đình cũng được đổi thành đình Đồng Thạnh.

Đình Đồng Thạnh được xây dựng theo lối kiến trúc kết hợp Đông Tây, nền cao gần một mét, có bậc tam cấp, nền lót gạch tàu, vách tường, cột làm bằng gỗ căm xe và gạch, mái lợp ngói ống và ngói âm dương. Nóc đình được trang trí lưỡng long tranh châu, cá hóa long bằng gốm sứ. Vì được xây dựng theo lối kiến trúc Pháp nên ngoài cửa chính còn có nhiều ô cửa thiết kế theo kiểu hình vòm, trang trí nhiều hoa văn Tây, cửa sắt tương tự những ngôi nhà phú hộ ở vùng này hồi đầu thế kỷ 20. Ngoài khu vực chính tẩm và võ ca còn có nhà việc làng cũng nằm trong quần thể kiến trúc ngôi đình. Võ ca, chính tẩm, sân khấu hát bội ngày xưa là sân khấu gỗ đặt trong võ ca. Nét đặc sắc nhất của ngôi đình này là nghệ thuật chạm khắc, trang trí hoa văn trên hệ thống kèo, xiên, trính và nhiều bức tranh đắp nổi trên tường, cùng các loại tượng gốm trang trí bên trong và bên ngoài đình như: Tứ linh, tứ quí, bát tiên, cá hóa long, v.v...
Theo các cụ lớn tuổi ở địa phương thì Đồng Sơn đình trung ngày xưa còn có nhiều bao lam chạm khắc rất đẹp, các bàn hương án, liễn... được chạm trổ tinh vi và được sơn son thếp vàng lộng lẫy. Nhưng trận hỏa hoạn vào năm 1963 đã làm hư vài phần mái ngói, phải dùng xi măng vá lại. Mái đình bị dột nhiều chỗ, thêm cửa nẻo hư hỏng phải sửa chữa tạm bợ và không ai bảo quản nên nhiều món đồ tự khí và trang trí nội thất bị mất dần.

Sau năm 1975, đình còn giữ được 4 bàn thờ, mặt trước có bức long án chạm tứ linh, hoa lá sơn son thếp vàng. Đồ tự khí gồm có 9 bài vị, 6 bộ chân đèn bằng gỗ, 1 đôi hạc gỗ, 1 bộ lỗ bộ cũng bằng gỗ. Trên cửa chính tẩm có 2 bộ bao lam thanh võng với 36 khuôn chạm các đề tài hoa lá, tứ linh, tứ quí… Trên tường nhà võ ca có các bức tranh được đắp nổi mô tả thuyền bè, cây cối và cảnh sinh hoạt của dân trong vùng hồi đầu thế kỷ 20.
Với lối kiến trúc độc đáo, không giống các ngôi đình theo mô típ đình Việt ở Nam bộ, năm 2009 đình Đồng Thạnh được công nhận là di tích kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia. Sau đó, Sở VH-TT-DL Tiền Giang lập dự toán trùng tu lại đình với tổng kinh phí hơn 16 tỉ đồng, từ nguồn chương trình mục tiêu quốc gia về văn hóa. Công trình được trùng tu gồm 4 hạng mục: chính điện-võ ca, nhà việc hội đồng làng, nhà khói và sân-đường-cổng... do 2 Công ty CP xây dựng và phục chế công trình văn hóa và Công ty CP xây dựng công trình văn hóa (Hà Nội) thi công. Giám sát là Công ty TNHH tư vấn xây dựng Đại Việt (Tiền Giang). Thế nhưng, sau khi nhận bàn giao, công trình đã để lại niềm vui không trọn vẹn cho người dân địa phương.

Theo ông Phạm Văn Huệ (người bảo vệ đình) thì: “Việc thi công trùng tu lại ngôi đình được ngoài bộ cử người vô thực hiện. Gỗ lim thay dàn cột cũng chở từ miền ngoài vào... Còn bộ xiên, trính, vĩ kèo cái nào có hoa văn xưa thì lạn xẻ lớp ngoài lấy hoa văn lại, rồi dùng keo dán vô gỗ mới, làm như vậy không biết ngày nào nó bung ra”. Trong khi đó thì những bức tranh đắp nổi ở vách võ ca đã bị vẽ lại và sơn phết, màu sắc nhòe nhẹt không còn đường nét cũ. “Trước khi trùng tu thấy có quay phim, chụp ảnh đàng hoàng. Không hiểu sao họ vẽ lại quá xấu, không có ký lô nào so với thời xưa”, ông Huệ bức xúc.
Khi được hỏi vì sao trong lúc trùng tu người địa phương không góp ý? Ông Huệ cho biết: “Trong ban xây dựng không có người địa phương. Bên công trình cũng không làm theo ý kiến đóng góp của dân sở tại. Ví dụ như nền cũ gạch phủ trên táng, lót xéo theo hình mắt cáo, nhưng khi trùng tu lại lót vuông, táng thì lộ trên nền gạch. Thực ra lớp cát đổ thêm chừng một tấc để phủ táng có bao nhiều tiền đâu. Nhưng các cụ góp ý thì những người thi công nói bản vẽ sao thì họ làm y vậy”.
Mặt khác, có lẽ vì không nằm trong hạng mục trùng tu nên phần trang trí nội thất được giao cho ban quản lý đình thực hiện. Vì vậy một số vị ở địa phương phải lo làm lại khánh thờ, trang trí các bàn thờ… Nhưng khi ghé thăm đình, ông Trương Ngọc Tường tỏ ra bức xúc, vì theo ông thì “chữ Thần ở đình làng là niềm kiêu hãnh, thể hiện trình độ văn hóa ở địa phương. Trong khi chữ Thần ở đình Đồng Thạnh được viết quá xấu lại thiếu nét, các chữ Nho trên bàn thờ tả ban, hữu ban cũng vậy, vùng này từng là trung tâm văn hóa Gò Công xưa làm vậy bôi bác quá!”

 Tuy nhiên, vấn đề mà người dân rất bức xúc là kinh phí đầu tư cho ngôi đình này quá lớn so với các công trình tương tự ở địa phương nhưng nhiều hạng mục lại bị bỏ dở dang. Ví dụ như cửa chính tẩm nhiều ô trám rớt mất cũng không được chạm gắn vào. Một công trình hoành tráng trị giá hàng chục tỉ đồng nhưng cả 2 cổng chính và phụ đều được đóng tạm bợ bằng nẹp tre, rất phản cảm.

Trả lời về những bức xúc của người dân, ông Nguyễn Ngọc Minh, Giám đốc Sở VH-TT-DL Tiền Giang khẳng định “không hề có chuyện cổng đình được làm bằng nẹp tre”. Nhưng ngay sau đó ông nói lại rằng: “Vì trước đây đình không có cổng, do đình là của chung, vì vậy khi bộ duyệt hồ sơ trùng tu cũng không có cổng. Còn cổng được làm bằng nẹp tre là do ban quản lý đình tự làm. Riêng việc đình không có nhà vệ sinh thì chúng tôi đã bàn với địa phương khi nào bố trí (vốn) được thì bố trí”. Cũng theo ông Minh thì thực hiện công trình này sở chỉ ký văn bản đề xuất với bộ, còn việc chạy xin kinh phí và tổ chức thi công thì do một đơn vị ngoài bắc lo từ A đến Z.

Thứ Tư, 4 tháng 9, 2013

Những điều trông thấy ở lăng Hoàng Gia

Tọa lạc tại giồng Sơn Quy, xã Long Hưng, thị xã Gò Công, Tiền Giang, đền thờ và khu mộ Phạm Đăng Hưng (thân phụ Hoàng thái hậu Từ Dũ), còn gọi là lăng Hoàng Gia, là di tích lịch sử cấp quốc gia. Trải qua nhiều thăng trầm dâu bể, lăng Hoàng Gia giờ đã thay đổi rất nhiều so với nguyên bản.
Theo giải thích của nhà nghiên cứu Trương Ngọc Tường thì mộ của Đức Quốc công Phạm Đăng Hưng được xây dựng theo hình “ngưu miên”, lấy hình thể giồng Sơn Quy làm điểm tựa, bên ngoài có 3 vòng thành, sau mộ có 2 bức bình phong. Tất cả được xây bằng hợp chất ô dước, các đường gờ mềm mại, uyển chuyển. Sau những lần trùng tu, khu mộ có thêm hợp chất xi măng trang trí một số bức phù điêu và hoa văn kiểu Pháp nên giống như một bức tranh tổng hợp các đường nét tây, ta. Ngôi mộ này trước đây hai bên có 2 con kỳ lân nhưng đã bị lấy cắp. Ngoài hình dáng ngôi mộ, chỉ có tấm bia mộ còn giữ nguyên vẹn, các phần còn lại thì đã qua nhiều lần tu sửa không còn nguyên bản. Những hoa văn trang trí kiểu Pháp có thể được thêm vào từ những lần tu sửa đầu tiên vào năm 1889, tức năm Thành Thái nguyên niên và năm 1921, tức năm Khải Định thứ 6.

Đáng tiếc là trong đợt trùng tu gần đây nhất vào cuối thập niên 1990, các cơ quan chức năng đã không nghiên cứu phục hồi lại những di vật của tiền nhân bị mất mà tiếp tục phá bỏ, thay thế. Cụ thể là trước khi trùng tu, trước ngôi mộ còn có các trụ biểu cao trông rất uy nghi, nhưng sau khi trùng tu đã bị chặt xuống thay thế bằng các trụ thấp, gắn búp sen. “Thời phong kiến, trước nhà quan lại thường có những cây trụ biểu để người dân dán vào đó những thắc mắc khiếu nại, giống như hộp thư bây giờ. Từ đó, trước mộ các quan đại thần có tục xây những cây trụ biểu trước mộ mang tính tượng trưng, cho nên nó cần phải giữ lại làm tư liệu lịch sử cho đời sau hiểu được ý nghĩa”, ông Tường nói.
Năm 1889, Hoàng thái hậu Từ Dũ sai vua Thành Thái về Gò Công thăm lăng mộ và thắp nhang tổ tiên. Bà cũng chuẩn bị sẵn việc cho khắc lại bia ca ngợi công đức ông Phạm Đăng Hưng để dựng tại đền thờ ở Huế và một tấm bia dựng tại khu lăng mộ ở Gò Công bằng đá hoa cương Biên Hòa, thay cho tấm bia gốc bằng đá cẩm thạch trắng đã bị người Pháp tịch thu khi di chuyển từ Huế vào đến Sài Gòn vào năm 1858. Tấm bia bị người Pháp tịch thu sau thời gian lưu lạc ở nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi rồi được đưa vào Bảo tàng TP.HCM, đến năm 1998 thì Sở VHTT Tiền Giang đưa về và xây miếu dựng lại ở khu mộ Đức Quốc công Phạm Đăng Hưng.

Sau chuyến đi của vua Thành Thái, ngôi từ đường tại lăng Hoàng Gia được xây dựng với kiểu nhà 3 gian 2 chái, cột gỗ, mái ngói, phía trước có thảo bạt. Quần thể kiến trúc nhà gồm cổng tam quan, sân, hồ sen, nhà thờ, nhà khách, nhà khói, nhà chỉnh y phục, được bao bọc bằng một bức tường cao. Theo ông Tường thì việc bà Từ Dũ gửi tiền về sửa lại lăng mộ và từ đường, chủ yếu là thử xem lòng dân Nam kỳ có còn nhớ tới triều đình hay không. Bởi vì thực tế nhà Nguyễn lúc bấy giờ rất nghèo. Tích thiện đường chỉ là mô hình nhà thờ chứ không thể xây dựng thành một từ đường qui mô tráng lệ được.
Cổng từ đường là một cái phường 2 tầng có mái, trước đó có treo tấm biển đề 3 chữ “Tích Thiện đường”, là chữ của vua Tự Đức ban tặng. Dưới mái phường đắp hình các loại trái cây, hoa, thú… Trong lần chỉnh trang này cũng có nhiều hoa văn kiểu Pháp được sử dụng. Nhưng tấm biển “Tích Thiện đường” thì đã bị thất lạc không rõ vào lúc nào.

Đặc biệt trước cửa từ đường còn có câu đối cũng của vua Tự Đức ban tặng:
“Tích đức dĩ di, vạn thế vĩnh lại        
Thiện gia tất hữu, bá phước dịch tuy”
(Tích đức lấy truyền, muôn đời luôn cậy dựa           
Thiện gia ắt có, trăm phước nối an khang).
Tiếc rằng trong lúc trùng tu, chẳng hiểu vì người ta không chú ý hoặc không biết chữ Nho mà có nhiều chữ bị đắp ngả nghiêng lật nhào không đọc được. Ông Tường còn cho biết thêm, tám chữ “Tích đức dĩ di, vạn thế vĩnh lại” là những chữ nằm trong đồng tiền thưởng của ông Phạm Đăng Hưng mà người đời sau không biết trân trọng. Nhưng không chỉ có các biển hiệu, câu đối chữ Nho mà cả chữ quốc ngữ cũng bị viết sai. Chẳng hạn như ở hai bên từ đường có 2 dòng chữ “Khải Định lục niên Tân Dậu trùng tu 1921” và “Thành Thái quơn niên Kỷ Sửu kiến tạo 1888”. Ở đây chữ ngươn/nguyên lại bị viết thành chữ quơn không có ý nghĩa gì hết, vậy mà nó vẫn tồn tại hơn chục năm qua.
Ngoài ra, trong nhà thờ, người ta thấy tấm biển hiệu quan trọng là Phạm phủ từ lại treo một bên, còn các biển có nội dung ca ngợi bình thường như Quan thế trạch, Đức Lưu phương đúng ra phải treo hai bên thì lại treo gian chính giữa... Chưa kể còn nhiều hiện vật bị sửa sang không đúng quy cách mỹ thuật như tấm khảm chạm tứ linh xưa lại đặt trong một cái khung hoa văn kiểu tây. Nhiều tác phẩm chạm trổ các hoa văn cận đại, hiện đại đứng gần nhau tạo thành một tác phẩm không giống ai.

Chưa hết, ở gian thờ chính có bố trí 5 bàn thờ ngũ đại (5 đời): Gian giữa là bàn thờ Đức Quốc công Phạm Đăng Hưng, còn người cha (Phạm Đăng Long) thì thờ gian tả, ông nội (Phạm Đăng Danh) thờ gian hữu, gian tả ngoài thờ ông cố (Phạm Đăng Tiên) và gian hữu ngoài thờ ông sơ (Phạm Đăng Khóa). Bài vị trên các bàn thờ đều được phục chế, sơn son thếp vàng. Thế nhưng, trên bàn thờ Đức Quốc công Phạm Đăng Hưng có 3 khánh thờ với 3 bài vị tách riêng tên họ, chức tước như: Đức Quốc công (tước) - Lễ bộ thượng thư (chức) và Phạm Đăng Hưng (tên). Theo nhà nghiên cứu Trương Ngọc Tường thì “đúng ra phải viết chung một bài vị là Lễ bộ thượng thư Đức Quốc công Phạm Đăng Hưng mới đúng, đàng này người ta lại cắt ông thành… 3 khúc để thờ”.   

Thứ Ba, 3 tháng 9, 2013

Hội Tôn cổ tự bây giờ

Tọa lạc tại ấp 8, xã Quới Sơn, huyện Châu Thành, Hội Tôn được xem là ngôi chùa cổ nhất ở Bến Tre.
Theo ông Huỳnh Minh (tác giả quyển Kiến Hòa xưa) thì chùa Hội Tôn được xây dựng từ đời Cảnh Hưng (1740), nguyên thủy là một cái am tu của Hòa thượng Long Thiền, người Quảng Ngãi vào khai sáng. Còn theo tài liệu của Ban đại diện Phật giáo huyện Châu Thành, Bến Tre, thì Hội Tôn cổ tự do bà Cù Thị Báo và con gái Trần Thị Mỗi tạo lập, ban đầu chỉ là thảo am, rồi những người mộ đạo quanh vùng thỉnh Hòa thượng Long Thiền về trụ trì. Nhờ sự ủng hộ của bá tánh, Hòa thượng xây dựng chùa khang trang hơn và vận động đắp con đường dài 500m từ chùa qua cánh đồng lầy, dân gian gọi là Lộ Chùa.

Khoảng năm 1799, Hòa thượng Long Thiền theo ghe bầu trở về nguyên quán rồi viên tịch ở Quảng Ngãi, chùa Hội Tôn do Hòa thượng Khánh Hưng kế thế trụ trì. Hòa thượng Khánh Hưng là người có công lớn trong việc trùng tu chùa Hội Tôn, nhờ huê lợi từ 27 mẫu đất giao cho bổn đạo canh tác, nhưng công trình nhiều lần bị đình hoãn vì thời cuộc và kéo dài mãi đến năm 1805 mới hoàn thành. Trong đợt trùng tu lần thứ hai, chùa Hội Tôn từ kiểu dáng hình tứ trụ chuyển thành kiến trúc chữ đinh trên diện tích gần 600 m2. Phía trước là gian tiền đường và chánh điện, phía sau là hậu tổ, gian nhà khách, giám trai... Tất cả đều làm bằng gỗ, nóc lợp ngói âm dương, nền đất trộn vôi, là một ngôi chùa trang nghiêm, đẹp nhất vùng. Trong thời gian này, bổn đạo còn góp tiền, vàng và cử người ra Huế đúc một cái đại hồng chung cao 1,5 mét.

Trải qua nhiều biến cố lịch sử, chùa Hội Tôn đã qua hàng chục đời trụ trì và nhiều lần trùng tu, sửa chữa. Năm 1947, chùa Hội Tôn được xây dựng lại, cột gỗ, vách tường, mái lợp ngói cũng theo kiến trúc dạng chữ đinh. Năm 1973 chùa Hội Tôn thêm một lần đại trùng tu, thay đổi kiểu dáng kiến trúc, bố cục, song vẫn giữ được những nét cơ bản của một ngôi chùa Nam bộ. Đến năm 2008, lấy lý do chùa bị xuống cấp nên trụ trì chùa là Đại đức Thích Hoằng Đạt, cũng là Trưởng ban đại diện Phật giáo huyện Châu Thành, đã làm đơn xin sửa lại chùa và được chính quyền địa phương chấp thuận.
Theo mô tả của những bổn đạo lớn tuổi thì trước khi đập xây lại, chùa Hội Tôn có lối kiến trúc hình chữ tam rất khang trang cổ kính. Tiền đường bố trí theo lối thượng lầu hạ hiên 3 mái, bên ngoài nhìn vào tương tự như cổng tam quan, chính giữa có đặt bộ tượng Tam thế Phật, hai bên có gắn hai tấm phù điêu nhắc tích Phật. Các tấm phù điêu này hiện còn để ngổn ngang bên mé cổng. Ngoài khu chánh điện, giữa gian hậu tổ và nhà khách có sân thiên tĩnh trồng nhiều cây kiểng.

Trong khi đó thì ngôi chùa hiện nay khu chánh điện và nhiều công trình được xây mới hoàn toàn. Chánh điện xây theo mô hình tháp 3 tầng, mái cong, nền cao, xung quanh được bao bọc bởi 49 cánh sen và 49 hình tượng kim qui, sơn nhủ vàng. Kiến trúc liên đài chuông, liên đài trống dựng hai bên là cành sen cách điệu nhưng trông rất thô kệch. Khu chánh điện có cầu vồng nối nhà tổ, chạm hoa sen, trổ rồng phụng... màu sắc sáng rực.
Giải thích về mô hình kiến trúc mới, sư trụ trì Thích Minh Hải đem ra một tấm bảng khắc gỗ và cho biết: “Đây là bảng gỗ thiết kế chùa gần 150 năm trước. Ngày xưa các cụ tổ đã phác họa mô hình chánh điện có 7 tầng trên nền hoa sen. Lối kiến trúc chùa Hội Tôn hiện nay trùng ý tưởng với người xưa, nhưng chỉ làm 3 tầng”. Sư trụ trì còn tỏ ý tiếc vì “cái duyên chưa tới”, phải chi hồi xưa các cụ xây dựng theo kiểu này thì chùa Hội Tôn trở thành một công trình độc nhất vô nhị, có thể sánh với chùa một cột ở Hà Nội.

Tuy nhiên, theo nhà nghiên cứu Trương Ngọc Tường thì bảng khắc gỗ nói trên chỉ là mộc bản dùng để in tranh “niệm Phật công cứ”. Khi niệm xong một chuỗi hạt người ta đánh dấu vào một ô, được nhiều ô tức là được nhiều công đức. “Đây là loại tháp La Hán 7 tầng dùng cho người niệm hướng về cõi lành, dứt tham – sân – si. Và khi qua đời, tấm “niệm phật công cứ” này được đem bỏ vào hòm tẩn liệm theo người chết. Còn theo truyền thống Phật giáo Việt Nam thì Phật không thể thờ trong tháp được. Kiến trúc tháp chỉ dành cho mộ của các Hòa thượng”, ông Tường khẳng định.
Hội tôn cổ tự còn lưu giữ khá nhiều cổ vật như: Bức hoành khắc chữ Hội Tôn tự (có từ năm 1782), xung quanh chạm rồng, đại hồng chung được tạo tác từ 1805, dăm trống và chum bằng đất nung, bộ tượng Thập điện bằng đồng… Ngoài ra, chùa còn có nhiều tượng phật cổ khác bằng chất liệu đồng, gỗ… là những di vật do tiền nhân để lại.

Nhưng hiện thời hệ thống tượng phật được bố trí trong khu chánh điện đã được thay mới hoàn toàn bằng các loại tượng đá đúc sẵn từ bột cẩm thạch và bố trí rất lộn xộn. Chẳng hạn như tượng Nam Tào Bắc Đẩu lý ra phải hầu Ngọc Hoàng thì lại đứng chung với Di Lặc và ông Địa, còn hai vị Hộ Pháp thì lại hầu Địa Tạng. Bộ Tam bảo cũ (Thích Ca, Di Đà, Di Lặc) thì được phân ra ba chỗ khác nhau. Các bộ tượng cổ này được bố trí trên 4 góc cao chánh điện (gần mái chùa), phía sau là những bức tranh Phật vẽ lên tường màu sắc rực rỡ cầu kỳ.

Điều đáng nói hơn là hầu hết tượng đồng, tượng gỗ xưa đều bị sơn vẽ lại, màu sắc lòe loẹt, thậm chí có những tượng còn được sơn móng tay. Trao đổi về việc này, sư Thích Minh Hải nói hai năm trước, khi ông về đây trụ trì thì các bộ tượng cổ đã được sơn lại. Còn việc bộ Thập Điện vương phải đem cất giấu vì giữa năm 2012, chùa bị mất một tượng Quan Âm bằng đồng và kẻ trộm cũng đã nhấc tượng Thập Điện vương lên thử, vì vậy chùa phải cất bộ tượng này, sắp tới sẽ kêu thợ tới hàn dính lại mới dám đem ra trưng bày.