Thứ Sáu, 6 tháng 1, 2012

Giám đốc chiếm đoạt vé số của nhân viên

            Ngày 22.12, anh Trần Nam Phúc (công tác tại Trung tâm Khí tượng thủy văn Long An) cho biết anh đã chính thức nộp đơn tại TAND TP Tân An khởi khiện ông Trương Hữu Bình, là giám đốc của mình, để “đòi lại tờ vé số bị chiếm đoạt”.
Theo tường trình của anh Phúc, khoảng 8 giờ sáng ngày 2.12.2011, ông Học (công tác tại Chi cục Thủy lợi Long An) có tới Trung tâm Khí tượng thủy văn Long An để mua số liệu thủy văn. Tình cờ, có chị Năm Kim vào cơ quan bán vé số nên ông Học mua luôn 2 lốc (một lốc có số cuối cùng là 48 của Công ty XSKT Vĩnh Long và lốc kia có số cuối cùng 29 của Công ty XSKT Bình Dương) để tặng anh chị em có mặt tại cơ quan mỗi người 2 tờ của 2 tỉnh khác nhau. Anh Phúc nêu cụ thể: “Ông Học đã tặng lần lượt từ chú Bình, đến tôi, anh Miên, chị Dưỡng, chị Diệu mỗi người 2 tờ của 2 đài khác nhau. Tới lượt anh Thắng ngồi ở phòng bên cạnh thì hết vé có số đuôi 48 đài Vĩnh Long nên ông Học tặng cho anh Thắng 2 tờ có số đuôi 29 của đài Bình Dương, đồng thời tặng thêm cho chú Bình một tờ nữa của đài Bình Dương có số đuôi 29. Tổng cộng ông Học đã mua 15 tờ vé số, trong đó có 6 tờ của đài Vĩnh Long và 9 tờ của đài Bình Dương”.

Anh Phúc kể tiếp: “Đến khoảng 17 giờ hôm đó, khi tôi đang phụ bán phở tại nhà của chú Bình thì chú tới hỏi 2 tờ vé số được tặng lúc sáng ở đâu đưa chú… dò giùm cho! Vì trong lúc đang lở tay nên tôi bảo chú Bình thò vào túi áo lấy 2 tờ vé số giùm. Một lúc sau, chú Bình nói “vé số không trúng” rồi nhét trở lại vào túi áo của tôi tờ vé số Bình Dương. Thấy vậy, tôi nói vé không trúng còn bỏ vào đây làm gì. Thế là chú Bình lấy luôn tờ vé số đó rồi đi chỗ khác. Khoảng 30 phút sau, khi đang ngồi uống bia chung thì chú Bình mua tặng cho tôi 2 tờ vé số chưa xổ. Đến sáng hôm sau, khi tôi đang trực ở cơ quan thì chị Năm Kim (người bán vé số hôm trước) đến cho biết tờ vé có số đuôi 48 của đài Vĩnh Long trúng độc đắc và an ủi rồi. Lúc đó, chị Năm Kim cho tôi xem 2 tờ trúng giải an ủi có số 063848, còn tờ trúng đặc biệt thì có số 163848”.
Ngay lập tức, anh Phúc chạy tới nhà sếp của mình để… đòi lại tờ vé số Vĩnh Long có số đuôi 48 ngày hôm trước, nhưng ông Bình vẫn bảo “tờ vé số đó không trúng”. Anh Phúc tường trình: “Khi tôi hỏi vậy tờ vé số đó đâu rồi thì chú Bình làm ngơ rồi mặc quần áo vào và bỏ ra ngoài. Trở về cơ quan, gặp lại chú Bình tôi tiếp tục đòi lại tờ vé số thì chú Bình nói “vé số đó không trúng  và đã quăng rồi”. Đến sáng thứ hai (5.12), khi mọi người tới cơ quan thì được biết trong 6 tờ vé số có số đuôi 48 của đài Vĩnh Long được ông Học cho đều trúng giải. Trong đó, chị Dưỡng, chị Diệu, anh Miên, xác nhận đã trúng giải đặc biệt. Ông Học thì cho biết chỉ trúng giải an ủi. Tờ vé số của tôi bị chú Bình lấy. Riêng chú Bình (được cho 3 tờ, 1 tờ Vĩnh Long)  thì nói không trúng tờ nào hết”!
Thế nhưng, anh Phúc không tin và vẫn khẳng định tờ vé số của mình đã trúng giải và bị ông Bình chiếm đoạt. Do vậy, anh quyết nộp đơn khởi kiện ra tòa để đòi lại tờ vé số đã mất.                                             
Sáng qua, chúng tôi đến Trung tâm Khí tượng thủy văn Long An nhưng ông Bình đi vắng. Trao đổi qua điện thoại, ông Bình khẳng định: “Chuyện đó không có. Cần gì anh cứ đến Công an P.2 (TP Tân An) tìm hiểu vì tôi đã tường trình sự việc ở đó rồi”.
Trong khi đó thì Công an TP Tân An cho biết có nhận được đơn tố cáo của anh Trần Nam Phúc, nhưng vì đây là quan hệ dân sự nên không nhận đơn và đã hướng dẫn anh Phúc nộp đơn khởi khiện ở TAND TP Tân An.

Hát vì người nghèo!

            “Thụ phong linh mục vào năm 2005 tại giáo phận Mỹ Tho, tôi được phân công về làm việc ở các giáo xứ Chợ Bưng, Tân Hiệp và Ba Giồng. Tại các giáo xứ vùng quê này, chứng kiến nhiều cảnh đời còn nghèo khó, không ít học sinh dù rất ham học nhưng không có tiền để học, người tàn tật thiếu phương tiện đi lại… Vì vậy tôi luôn suy nghĩ phải làm điều gì đó để giúp đỡ người nghèo”. Đó là lời trần tình của linh mục JB Nguyễn Tấn Sang, cha sở của giáo xứ Ba Giồng (xã Tân Lý Đông, H.Châu Thành, Tiền Giang).
*Linh mục Nguyễn Sang.
Nhưng muốn làm từ thiện thì phải có tiền, mà linh mục (LM) thì đâu có được phép kinh doanh. Cũng không thể cứ đi xin của người này để cho người khác. Vậy là ông nghĩ ra cách dùng tiếng hát của mình để thu âm những bài thánh ca vào đĩa CD để bán, lấy tiền giúp đỡ người nghèo. Do vậy mà từ năm 2005, chương trình “Tiếng hát vì người nghèo” đã ra đời. Vì không phải là ca sĩ chuyên nghiệp nên khi thực hiện album đầu tiên cũng gặp không ít khó khăn. Điều bất ngờ là album đầu tiên với chủ đề “Dấu ấn” được phát hành 500 bản nhưng chỉ trong vòng một tuần đã bán hết. Và sau nhiều lần tái bản, album đầu tiên này đã phát hành đạt con số kỷ lục là 100.000 bản. Sau khi trừ các khoản chi phí, toàn bộ số tiền thu được từ album này được dùng để mua gạo giúp cho người nghèo ngay trong giáo xứ Ba Giồng.
Sau thành công ban đầu, tính đến nay LM Sang đã thu âm được 15 album ca nhạc với số lượng phát hành tổng cộng hơn 750.000 bản CD. Để người nghe không cảm thấy nhàm chán, ông đã làm phong phú chương trình bằng cách mời các ca sĩ Hương Lan, Giao Linh và Khánh Ly tham gia hát trong một số album. Cũng vì vậy, ngoài việc phát hành trong nước, mấy năm gần đây ông đều dành trọn 30 ngày nghỉ phép để sang Mỹ, Úc và Canada phối hợp cùng với các ca sĩ tổ chức chương trình văn nghệ và phát hành CD trong cộng đồng người Việt. Dù không nhận tiền thù lao, nhưng LM Sang cho biết khi ông sang Úc lưu diễn trong 3 tuần tại các thành phố Sydney, Melbourne, Perth và Brisbane thì các ca sĩ Hương Lan, Giao Linh và Khánh Ly đều có mặt đủ 3 tuần. Tại Mỹ, ông đã từng hát ở 6 tiểu bang như California, New Mexico, Atlanta… Tại Canada thì hát ở Montreal và Toronto. Sắp tới ông chuẩn bị lưu diễn ở Anh, Na Uy và Đan Mạch.

Việc các album được phát hành với số lượng lớn đáng ngạc nhiên như vậy, theo LM Sang thì không phải vì giọng hát hay mà còn do cách chọn nhạc. Cụ thể là trong các album không chỉ có những bài thánh ca dành cho giáo dân mà còn có cả những bài hát ca ngợi về công ơn cha mẹ như Lòng mẹ, Ơn nghĩa sinh thành, Còn thương rau đắng mọc sau hè… để phục vụ cho bà con ngoại đạo. Sinh năm 1973, tốt nghiệp ĐH Văn hóa, nhưng theo LM Sang thì sự thành công của ông là nhờ… trời cho cái giọng, đặc biệt là sự đam mê về âm nhạc. Vì vậy, ông luôn hát bằng cái hồn và trái tim của mình nên chinh phục được người nghe.
Qua hơn 6 năm miệt mài làm từ thiện bằng tiếng hát của mình, tính đến nay LM Sang đã cất được 135 căn nhà tình thương cho người nghèo, đã cấp hơn 500 suất học bổng cho học sinh nghèo từ cấp 2 đến đại học, giúp 600 xe lăn và 100 xe lắc tay cho người tàn tật ở nhiều tỉnh, thành. Gạo thì ông nói không nhớ nổi số lượng là bao nhiêu tấn, vì cứ mỗi 2 tháng thì chương trình “Tiếng hát vì người nghèo” lại đến với khoảng 500 người nghèo, không phân biệt tôn giáo. Ngay tại giáo xứ Ba Giồng, cứ vào thứ sáu mỗi tuần nhà thờ đều tổ chức nấu ăn và mang tới tận nhà cho khoảng 100 người có hoàn cảnh khó khăn, dị tật. Ngoài việc giúp mổ sáng mắt cho hơn 5.000 người già , ông còn giới thiệu cho hơn 400 trường hợp được mổ tim, đồng thời trực tiếp giúp tiền để mổ tim cho hơn 20 trường hợp.

Theo nhận xét của giám mục Giáo phận Mỹ Tho Bùi Văn Đọc thì đây là một linh mục tham gia hoạt động từ thiện tiêu biểu nhất của giáo phận. Còn LM Sang thì nói ông cảm thấy rất hạnh phúc vì chương trình “Tiếng hát vì người nghèo” trước đây ông bắt đầu một mình thì nay đã có 850 thành viên tự nguyện tham gia, đồng hành giúp người nghèo vượt qua nghèo khó.                                                                                      

Ở tù vẫn vô tư xài điện thoại!

            Mặc dù đang thụ hình bản án 14 năm tù ở Trại giam Xuyên Mộc (Bà Rịa-Vũng Tàu), vậy mà từ trong tù, Phan Cao Giang đã sử dụng điện thoại di động để lừa đảo hàng loạt vụ; trong khi theo quy định thì phạm nhân không được phép sử dụng điện thoại, kể cả các vật dụng cứng, sắc nhọn... và được khám xét kỹ trước khi vào trại giam.
*Lừa đảo qua điện thoại
Để thực hiện được hành vi lừa đảo, Phan Cao Giang khai nhận đã thuê của Cù Quốc Toàn (là phạm nhân bị giam chung phòng) 2 điện thoại di động hiệu Nokia để giả danh công an liên lạc ra bên ngoài. Mỗi lần như vậy Giang trả cho Toàn 60.000đ/giờ bằng cách mua thẻ cào nộp vào tài khoản điện thoại. Trước khi ra tay, Giang điện thoại cho bạn gái là Nguyễn Thị Thắm (ngụ ấp Bình Đức 2, xã Bình Hòa, H.Thuận An, tỉnh Bình Dương) nhờ mua báo và đọc cho y nghe thông tin về các vụ án hình sự vừa xảy ra. Từ điện thoại thuê của Toàn, Giang đã lừa lấy của Công ty CP rau quả Tiền Giang 7 triệu đồng sau khi đơn vị này bị mất trộm 400 triệu đồng, 2.502 USD, một laptop và một máy ảnh vào đêm 3.1.2011. Chỉ trong 3 tháng, Giang khai đã thuê điện thoại của Toàn khoảng 40 lần và đã trả cho Toàn 20 triệu đồng. Việc thanh toán tiền được chuyển vào tài khoản điện thoại của em ruột Toàn tên là Âm, ngụ ở Bình Phước.
Thấy “làm ăn” quá dễ dàng, Giang mua lại điện thoại Nokia của phạm nhân Nguyễn Hồng Phương với giá 2 triệu đồng và từ điện thoại này, Giang thực hiện được 2 vụ lừa ở TX Đồng Xoài (Bình Phước) và 1 vụ ở Tiền Giang. Trong đó có vụ lừa ông Huỳnh Anh Tuấn (xã Thiện Trí, H.Cái Bè, Tiền Giang) lấy 11 triệu đồng sau khi đọc báo biết ông Tuấn vừa bán heo và bị mất trộm 694 triệu đồng. Theo lời khai của Giang thì tháng 3.2011, y đã mua một điện thoại Nokia 6290 để biếu cho một cán bộ quản giáo tên là T. Nhờ vậy mà mỗi khi được ra ngoài lao động, cán bộ T. đã cho Giang mượn điện thoại để liên lạc về gia đình. Nhưng thay vì gọi cho gia đình, Giang đã sử dụng điện thoại của cán bộ T. để thực hiện thêm 2 vụ lừa đảo trên địa bàn Tiền Giang. Như trường hợp chị Tạ Thị Thu (đường Lê Thị Hồng Gấm, P6. TP Mỹ Tho): Ngày 5.4.2011, sau khi bị mất xe gắn máy Air Blade, nạn nhân còn bị lừa thêm 7 triệu đồng. Giang khai mỗi lần mượn điện thoại của cán bộ T. thì y nạp tiền vào tài khoản điện thoại từ 1 đến 2 triệu đồng, còn việc thực hiện hành vi lừa đảo thì cán bộ T. không biết.
*Và “chung, chi” tiền?!
Cũng theo lời khai của Giang thì y đã nhiều lần “chung chi” tiền cho một số cán bộ quản giáo, sau khi bị phát hiện sử dụng điện thoại trong trại giam để thực hiện hành vi lừa đảo. Cụ thể, Giang khai đã đưa cho cán bộ H. 5 triệu đồng để nhờ người này đưa lại giùm cho cán bộ L. (cấp trên của ông H.) ở Trại giam Xuyên Mộc. Lý do đưa tiền, Giang giải thích rằng do cán bộ quản giáo S. yêu cầu, vì theo cán bộ S. thì cán bộ L. đã biết việc Giang sử dụng điện thoại trong trại giam. Ngoài số tiền phạm tội mà có, Giang còn yêu cầu gia đình “chi viện” thêm để chi cho một số cán bộ. Chẳng hạn như ngày 19.4.2011 Giang mua 2 vé máy bay cho cán bộ T. về quê với số tiền 2,8 triệu đồng, thông qua một người bạn tên Tuấn Anh đang làm việc tại phi trường Tân Sơn Nhất. Ngoài 8 triệu đồng nạp vào tài khoản điện thoại di động, Giang khai còn mua tặng cho cán bộ T. một dàn máy nghe nhạc giá 3 triệu đồng, một điện thoại Nokia giá 1.390.000đ và 1 triệu đồng tiền mặt…
Đối với cán bộ S., Giang khai đã “chi” 5 triệu đồng tiền mặt, một điện thoại di động giá 1,4 triệu đồng và 3 lần nạp tiền vào tài khoản điện thoại tổng cộng 1,7 triệu đồng. Riêng cán bộ H., Giang khai đã chi 2,8 triệu đồng tiền mặt, 3 chai rượu, đồng thời điện thoại về gia đình yêu cầu chuyển vào tài khoản của cán bộ H. nhiều lần tổng cộng 10 triệu đồng. Ngoài ra, Giang còn khai đã chi tiền cho 5 cán bộ khác tổng cộng hơn 7 triệu đồng và một máy laptop hiệu Dell giá 7 triệu đồng. Chơi “xộp” hơn, Giang còn mua “tặng” cho trại giam một tivi hiệu LG giá 3,8 triệu đồng!
Đáng lưu ý, theo lời khai của Giang thì y biết rõ có 15 phạm nhân như Cu Lãnh, Khôi Đen, Hiền Lúa, Phúc Nhóc, Hùng Bắc, Lâm Bi… mỗi khi được ra ngoài lao động đã liên lạc bằng điện thoại để mua ma túy đem vào trại giam bằng cách bỏ vào ống hút ngậm trong miệng, hoặc nhét vào hậu môn để không bị cán bộ quản giáo phát hiện. Sau đó, họ đem bán lại cho các phạm nhân nghiện với giá từ 5 đến 10 triệu đồng một tép.                           
*Tù nhân Phan Cao Giang còn lừa 7 vụ khác trên địa bàn tỉnh Tiền Giang như ngày 9.11.2010, sau khi bị tạm giữ về hành vi đánh bạc thì gia đình Phan Văn Tám nhận được điện thoại của một người tự xưng là “cán bộ Công an H.Châu Thành”, nói Tám bị té đập đầu chấn thương nặng. Muốn được chăm sóc tốt thì mua thẻ cào điện thoại và nhắn mã số vào số máy 016756… 2,5 triệu đồng. Ngày 14.11.2010, sau khi gây tai nạn giao thông nghiêm trọng, gia đình tài xế Cao Quốc Hiền nhận được điện thoại của một người xưng là cán bộ quản giáo Trại tạm giam Công an Tiền Giang, cho biết Hiền đập đầu vào tường tự sát. Muốn thăm hoặc nói chuyện qua điện thoại với Hiền thì nhắn mã số 8 thẻ cào điện thoại di động vào số máy 012074...
Lật lại hồ sơ cho thấy Giang có nhiều tiền án, tiền sự: Năm 1993 và 1996 đã bị Công an Q.4 và Công an Q.10 TPHCM bắt về hành vi trộm cắp tài sản. Từ năm 1997 đến năm 2006 4 lần bị phạt tù về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức. Trong đó, năm 2000 đã bị Tòa án Quân khu 7 xử phạt 8 năm tù; năm 2005 bị TAND Q.1, TP.HCM phạt 9 năm tù và ngày 30.3.2006 bị TAND TP Đà Lạt (Lâm Đồng) phạt 5 năm tù...

Khu vườn lạ của chàng trai trẻ

            Một chàng trai trẻ lại có sự đam mê kỳ lạ với hoa mai và cổ vật, vốn là thú tiêu khiển xưa nay của những người… già! Nhưng cũng từ đam mê đó anh đã tạo ra một khu vườn rất lạ.
*“Sốc” vì khu vườn… lạ
Nếu bạn đi từ hướng Sài Gòn về Bến Tre, qua trạm thu phí cầu Rạch Miễu, tới ngã tư An Khánh rẽ phải theo tỉnh lộ 883, đi chừng 4 cây số rồi hỏi “khu vườn lạ” thì ai cũng biết. Lạ bởi vì ở giữa vùng cây trái xum xuê của vùng sông nước Cửu Long, lại có một khu vườn chỉ trồng toàn… hoa mai, không phải là sầu riêng, là chôm chôm hoặc bưởi da xanh, những đặc sản nổi tiếng của vùng này. Đó là một khu vườn rộng gần 7.000 m2 tràn ngập sắc vàng rực rỡ với vô số những cội mai già, đủ kiểu dáng vào mỗi độ xuân về, khiến khách qua đường ai cũng phải ghé mắt, dừng chân.

Chủ nhân của khu vườn lạ đó là Trần Thanh Giang, 34 tuổi, một doanh nhân trẻ khá thành đạt và… chưa vợ. Tốt nghiệp trường luật năm 2002, Giang không theo nghề mà lại đi làm cho một công ty quảng cáo và tổ chức sự kiện. Một năm sau, anh lập công ty riêng có trụ sở chính đặt tại thị trấn Châu Thành (Bến Tre), nhưng phạm vi hoạt động trên cả nước. Điều kỳ lạ là bao nhiêu vốn liếng tích lũy được từ kinh doanh, anh đã dốc hết để mua một khu vườn tại ấp 1, xã Phú Túc (H.Châu Thành) chỉ để trồng… mai! Bấy giờ, nhiều nông dân trong vùng hết sức ngạc nhiên và tiếc rẻ khi thấy anh đốn bỏ hết vườn sầu riêng hạt lép và nhãn xuồng cơm vàng đang cho hoa lợi để trồng mai, một loại cây chỉ ra hoa mỗi năm một lần vào Tết Nguyên đán. Cứ trồng mai đến đâu thì anh đốn bỏ sầu riêng và nhãn tới đó. Hàng xóm thấy vậy có người nghĩ anh chàng này vừa có tiền đã chơi ngông hoặc hơi bị… khùng!
Bà Trần Thị Bạch Thủy, mẹ Giang, nhớ lại: “Lúc đầu nghe con trai khoe mới mua được miếng vườn gần một tỉ đồng nằm cạnh đường giao thông, lại trồng toàn cây ăn trái đặc sản, tôi mừng lắm vì đây là thành quả đầu tiên của con sau mấy năm ra trường. Nhưng rồi sau đó tôi hết sức bất ngờ và bị sốc khi Giang đã cho đốn sạch hết cây ăn trái để trồng… mai. Tiếc quá, nhưng lúc đó tôi chỉ còn biết lắc đầu vì không thể nào ngăn cản con được. Còn Giang thì chỉ cười và giải thích rằng nó mua đất là để trồng mai chớ không phải làm vườn. Vậy là từ 4 gốc mai có sẵn, đến bây giờ khu vườn của Giang đã sưu tập được gần 700 gốc mai với đủ chủng loại, hình dáng, giá trị khác nhau, với giá mua vào từ 5-7 triệu đồng đến 150 triệu đồng mỗi gốc”.
Không giải thích được vì sao lại quá yêu thích cây mai, Giang chỉ nói đó là niềm vui và ước mơ của anh từ thuở nhỏ. Giang “mê” mai đến nổi mỗi khi đến đâu anh đều “cài” vệ tinh lại với lời dặn “nếu thấy có ai bán mai đẹp thì làm ơn gọi giùm”. Không chỉ săn lùng ở các tỉnh miền Tây mà anh còn bỏ công lặn lội ra tận Bình Dương, Bình Phước để tìm mai độc. Mẹ anh kể có lần vừa mổ ruột thừa được một ngày và còn đang nằm viện, không chịu nổi khi xem hình ảnh cây mai cổ thụ rất đẹp đang rao bán, anh đã bay sang Campuchia để tận mắt xem cây mai thật đẹp đến mức nào. Cũng chính vì vậy mà bao nhiêu lợi nhuận từ kinh doanh anh đổ hết vào vườn mai. Sau 4 năm, Giang đã đầu tư vào vườn mai gần 6 tỉ đồng, trong đó riêng năm 2009 hơn 3 tỉ đồng.
*Ngôi nhà toàn bằng… dừa!
Năm 2008, ở giữa khu vườn mai, Giang tự thiết kế và cất một căn nhà cũng hết sức độc đáo và lạ mắt. Từ mái, vách, cột, kèo, giường ngủ, nội thất, tất cả đều được làm từ gỗ của gần… 1000 cây dừa. Riêng nền thì được lát bằng… gốm. Ngôi nhà thi công ròng rã suốt 3 năm mới hoàn thành. Lúc đầu Giang cất nhà định chuẩn bị cưới vợ. Nhưng nhà làm xong thì lại chứa toàn cổ vật, mà chủ yếu là bộ sưu tập hàng trăm chiếc chậu và đôn bằng gốm sứ cổ với hình tượng con voi đủ các kiểu được làm từ cuối thế kỷ19 và đầu thế kỷ 20 từ làng gốm Cây Mai của Sài Gòn xưa.

Theo Giang thì: “Dòng gốm Cây Mai có giá trị không chỉ do có niên đại lâu đời mà còn ở sự sắc sảo trong chế tác mẫu mã, các chi tiết hoa văn khéo léo và kỹ thuật sử dụng men của nghệ nhân người Việt xưa. Thoạt nhìn tưởng như thô mộc, đơn giản, nhưng ẩn chứa nét công phu trong chế tác, chuẩn mực trong tạo hình và bố cục hài hòa. Đặc biệt là gốm Cây Mai có nước men bóng, bền với thời gian và hoa văn trang trí trên sản phẩm sắc nét đến từng chi tiết nhỏ. Vì vậy, có những chiếc đôn hình con voi thuộc dòng gốm Cây Mai hiện có giá chừng vài chục triệu đồng nhưng không dễ tìm”.
               *Vườn mai của Giang hầu hết là loại mai vàng nguyên thủy, nhưng chủng loại rất đa dạng từ 5, 6, 8 cánh đến 12 cánh. Có một loại mai cúc đến 150 cánh nhưng đó là loại mai được lai tạo nên anh không xem là quý. Màu sắc của hoa cũng đa dạng, từ vàng, vàng nhạt, vàng đậm đến hơi đỏ hoặc màu cam. Có loại cánh hoa dài, có loại cánh hoa tròn. Có loại tỏa mùi thơm nhưng có loại không thơm, loại mai ra chồi màu xanh thì thơm hơn loại ra chồi màu tím.                                                                                                      

Một vụ án còn nhiều khuất tất

          Theo hồ sơ vụ án thì vào rạng sáng ngày 19.1.2011, sau khi nhà báo Lê Hoàng Hùng bị phóng hỏa, một số nhân chứng là những người đầu tiên có mặt tại hiện trường và tham gia chữa cháy như các ông Trần Văn Mến, Nguyễn Văn Sữa, Nguyễn Công Anh và Trần Trọng Nghĩa… đã được cơ quan điều tra lấy lời khai. Nhưng theo LS Nguyễn Văn Đức, người đại diện quyền lợi hợp pháp cho gia đình bị hại, thì ngay chính lời khai của các nhân chứng này vẫn còn nhiều điểm mâu thuẫn. Do vậy ông đã kiến nghị TAND tinh Long An trả hồ sơ để điều tra bổ sung, vì không thể đưa vụ án ra xét xử khi còn nhiều tình tiết chưa được làm rõ.
Cụ thể, theo biên bản ghi lời khai vào lúc 4 giờ sáng ngày 19.1 (bút lục số 311) thì ông Trần Trọng Nghĩa (quê xã Quốc Tuấn, H.Kiến Xương, tỉnh Thái Bình, là kỹ sư xây dựng công trình gần nơi xảy ra vụ án) thì: “Khoảng 1 giờ 30, nghe tiếng la lớn bên nhà của anh Hùng, tôi ra xem thì thấy lầu 1 nhà anh Hùng bốc cháy. Tôi đi vòng ra sau nhà mở cửa chạy qua thì thấy cửa tầng trệt đã mở, cửa rào phía trước đã mở. Tôi chạy về nhà bưng qua một thùng nước lên lầu 1 tạt vào phòng ngủ của anh Hùng…” Tương tự, lời khai của ông Nguyễn Công Anh (là công nhân xây dựng, quê Hà Tĩnh) cho biết: “Nghe có tiếng kêu cứu, tôi ngồi dậy nhìn sang thì thấy ở lầu 1 nhà ông Hùng có lửa cháy. Tôi chạy sang nhà Nghĩa và cùng anh Nghĩa chạy sang nhà ông Hùng… Khi chạy đến nhà ông Hùng, thấy ông già ba của chị Liễu từ nhà chạy qua thì cửa rào và cửa chính tầng trệt đã mở… (bút lục số 305)”

Trùng khớp với lời khai của hai nhân chứng trên, tiếp xúc với chúng tôi ngày 1.3.2011, gia đình bị can Trần Thúy Liễu, mà cụ thể là ông Trần Văn Mến và bà Trần Thúy Nga (cha và chị bà Liễu) kể: Ngay khi ông Hùng bị phóng hỏa, ông Trần Văn Mến (lúc đó đang ngủ ở trại gà cạnh nhà ông Hùng) nghe tiếng la chạy sang thì thấy cửa chính vào nhà ông Hùng chỉ khép lại mà không khóa. Trong khi đó thì cháu Lê Hồng Châu (con ông Hùng) cho biết ngay khi nghe tiếng ông Hùng kêu cứu, cháu nghe có tiếng chân người chạy “bịch, bịch” rất nhanh từ trên lầu xuống cầu thang…
Tuy nhiên, theo cáo trạng của Viện KSND tỉnh Long An ngày 20.10.2011 thì: “Sau khi nghe tiếng la cháy, ông Trần Văn Mến và anh Trần Trọng Nghĩa chạy đến trước sân nhà Liễu đều xác định cửa chính tầng trệt nhà Liễu khóa kín không vô được”. Ngoài ra, căn cứ vào bản kết luận giám định ngày 9.2.2011 của Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Long An thì: “Để luồng vòng tròn của đầu sợi dây vào thanh sắt tạo thành nút trượt, đối tượng phải ở trên ban công luồn vào và thả sợi dây xuống đất. Do vậy, không thể có người đu trên sợi dây để leo lên lầu 1 hoặc thoát từ ban công lầu 1 nhà Hoàng Hùng xuống mặt đất”. Chính từ các căn cứ nói trên nên kết luận điều tra cũng như cáo trạng đã kết luận bị can Trần Thúy Liễu chỉ hành động một mình, vụ án không có đồng phạm. Thế nhưng, ai cũng hiểu sợi dây dù chỉ là hiện trưởng giả và đương nhiên, nếu vụ án có đồng phạm thì đồng phạm cũng không leo vào nhà nạn nhân bằng sợi dây dù mà phải vào và thoát ra từ cửa chính. Mặt khác, theo lời khai của bà Đặng Thị Nguyệt Sương thì ngày 17.1 có bán cho người đàn ông sợi dây dù 10 m và không nhớ có bán sợi dây dù 12 m cho người phụ nữ nào, nhưng tình tiết này cũng chưa được làm rõ.
Sau khi vụ án xảy ra, bị can Trần Thúy Liễu khai rằng nguyên nhân dẫn đến việc phóng hỏa giết chồng vì uất ức, do bị ông Hùng thường xuyên đánh đập, trong khi những người thân của bị can Liễu đều khẳng định vợ chồng ông Hùng ít xảy ra cãi vã, đồng thời chưa ai thấy ông Hùng đánh vợ bao giờ. Về việc này, trong biên bản hỏi cung ngày 12.8.2011, khi được hỏi: “Việc bị can cho rằng Lê Hoàng Hùng đánh nhiều lần Nhung và Châu có biết không?” Bị can Liễu trả lời: “Nhung và Châu có biết và thấy Hùng đánh tôi khi còn ở nhà cũ 1-2 lần. Còn khi về nhà mới thì không thấy, ngay cả cãi lộn cũng không cho con biết”.
Khi điều tra viên hỏi việc bị cáo có thai có báo cho Hùng và Tâm biết không? Liễu nói: “Tôi không báo nhưng Hùng phát hiện giấy siêu âm nên Hùng biết nhưng không nói gì, mà chỉ chửi bóng gió thôi. Còn Tâm thì tôi báo là có thai, Tâm chịu và hỏi tôi tính thế nào? Tôi tự uống thuốc phá thai”.                                                                         

Nam Phương Hoàng hậu

          Nam Phương Hoàng hậu là vợ của vua Bảo Đại, là hoàng hậu cuối cùng của chế độ phong kiến Việt Nam. Bà cũng là trường hợp duy nhất được phong hoàng hậu khi còn sống. Như vậy, trong thời nhà Nguyễn, vùng đất Gò Công có hai người được phong hoàng hậu, cách nhau 112 năm.
            Theo Nguyễn Phúc tộc thế phả, Nam Phương Hoàng hậu tên là Nguyễn Hữu Thị Lan, còn có tên thánh là Marie Thérèse, sinh ngày 4.12.1914, năm Giáp Dần, là con gái của đại điền chủ Nguyễn Hữu Hào, người tỉnh Gò Công, là một trong 4 người giàu nhất Việt Nam đầu thế kỷ 20 và là cháu ngoại ông Lê Phát Đạt, tức Huyện Sỹ, một gia đình giàu có bậc nhất Nam Kỳ thời bấy giờ. Ông Đạt là người bỏ tiền ra xây dựng nhà thờ Huyện Sỹ ở Q.1 và nhà thờ Hạnh Thông Tây ở Gò Vấp, TP.HCM.

Năm 1926, Nguyễn Hữu Thị Lan khi đó 12 tuổi, được gia đình gửi sang Pháp học tại trường dòng Couvent des Oiseaux, một trường nữ danh tiếng ở Paris. Năm 1932, sau khi thi đậu tú tài bà trở về nước trên con tàu D’Artagnan của hãng Messagerie Maritime. Cùng đi trên chuyến tàu này còn có Nguyễn Phúc Vĩnh Thụy, sinh năm 1913, sau 11 năm du học ở Pháp, trở lại quê nhà. Gần một năm sau đó, trong một buổi dạ tiệc tại khách sạn Palace, Đà Lạt, bà gặp vua Bảo Đại, tức Nguyễn Phúc Vĩnh Thụy. Ngày 20.3.1934 bà được tấn cung, vào ở điện Kiến Trung và 4 ngày sau được tấn phong là Nam Phương Hoàng hậu.
Giải thích về danh hiệu Nam Phương hoàng hậu, vua Bảo Đại đã viết: “Nàng có vẻ đẹp dịu dàng của người miền Nam pha một chút Tây phương. Do vậy mà tôi đã chọn từ kép Nam Phương để đặt danh hiệu cho nàng và Nam Phương còn có nghĩa là hương thơm của miền Nam (Parfume du Sud)”. Trong khi đó thì Nam Phương Hoàng hậu cũng tiết lộ về cuộc hội ngộ: “Hôm đó Đốc lý TP Đà Lạt là ông Darle gửi giấy mời cậu Lê Phát An và tôi đến dự dạ tiệc ở hotel Palace. Chúng tôi đến trễ nên buổi dạ tiệc đã bắt đầu từ lâu. Cậu tôi định kéo ghế ngồi ngoài hiên thì ông Darle trông thấy, chạy đến chào chúng tôi rồi nắm tay cậu tôi kéo vô nhà. Khi cánh cửa phòng khách mở, tôi thấy vua Bảo Đại ngồi trên chiếc ghế bành ở giữa nhà. Ông Darle bước tới cạnh nhà vua, nghiêng mình cúi chào và kính cẩn nói: “Tâu hoàng thượng, đây là ông Lê Phát An và người cháu gái, cô Marie Thérèse”… Tôi đến trước mặt hoàng đế, quỳ một gối và cúi đầu sát nền nhà cho đến khi thấy bàn tay cậu tôi kéo tôi dậy. Nhà vua gật đầu chào tôi đúng lúc tiếng nhạc vừa trỗi lên theo nhịp điệu tango…”

Theo nhiều tài liệu ghi chép thì vua Bảo Đại say mê Nguyễn Hữu Thị Lan ngay từ lần gặp đầu tiên vì vẻ đẹp thùy mị, đoan trang của người con gái đất phương Nam, hiền lành và quyến rũ. Tuy nhiên, khi nhà vua ngỏ lời xin hỏi cưới thì nhà gái ra điều kiện: Nguyễn Hữu Thị Lan phải được tấn phong Hoàng hậu chánh cung ngay trong ngày cưới. Được giữ nguyên đạo Công giáo, riêng nhà vua thì vẫn giữ đạo Phật. Phải được tòa thánh cho phép đặc biệt hai người lấy nhau và giữ hai tôn giáo khác nhau... Nam Phương hoàng hậu nổi tiếng là xinh đẹp, từng 3 lần đoạt giải hoa hậu Đông Dương. Bà mang quốc tịch Pháp và theo đạo Công giáo. Chính vì vậy mà cuộc hôn nhân giữa bà và nhà vua gặp phải nhiều phản đối của triều đình. Nhưng rồi hôn lễ vẫn được cử hành ngày 20.3.1934 tại điện Cần Chánh, trước sự chứng kiến của triều thần và đại diện nước Pháp. Hôn lễ được tổ chức ngắn gọn, đơn giản. Khi đó vua Bảo Đại 21 tuổi còn Nguyễn Hữu Thị Lan 19 tuổi. Theo sử sách thì sự kiện Nguyễn Hữu Thị Lan được tấn phong hoàng hậu ngay sau khi cưới là một biệt lệ, bởi vì trong 12 đời vua triều Nguyễn trước đó, các bà vợ vua chỉ được phong tước vương phi, đến khi mất mới được truy phong hoàng hậu.
Sau khi cách mạng tháng Tám thành công, ngày 30.8.1945 vua Bảo Đại thoái vị trong một buổi lễ tổ chức ở Ngọ Môn, để trao quốc ấn lại cho đại diện Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa. Nam Phương Hoàng hậu được đánh giá là người thiết tha với đất nước. Khi thực dân Pháp dựa vào thế lực của quân Anh có ý đồ tái chiếm lại thuộc địa Việt Nam, đau lòng trước thảm cảnh mà đồng bào miền Nam, quê hương của bà đang gánh chịu, Hoàng hậu Nam Phương đã gửi thông điệp cho bạn bè ở châu Á yêu cầu họ lên tiếng tố cáo hành động xâm lược của thực dân Pháp. Nam Phương Hoàng hậu là người phụ nữ đầu tiên ở nước ta tháp tùng cùng nhà vua trong các chuyến công cán ra ngoại quốc với vai trò đệ nhất phu nhân. Bà cũng là hoàng hậu đầu tiên xuất cung tham gia các hoạt động xã hội như thăm các cô nhi viện, thăm trường nữ Trung học Đồng Khánh, và ngày chủ nhật bà cũng đi lễ nhà thờ như một người dân bình thường.                                                                      

Năm 1947, Nam Phương Hoàng hậu rời Việt Nam sang Pháp định cư. Đến năm 1958, bà lại rời bỏ kinh thành Paris về sống lặng lẽ cùng với các con ở làng Chabrignac xa xôi, hẻo lánh cách 500 cây số về phía nam, thuộc tỉnh Corrèze, vùng Limousin, miền Tây Nam nước Pháp. Trong suốt 5 năm sống ở điền trang La Perche, vào đầu năm 1962 người ta thấy cựu hoàng Bảo Đại có ghé thăm 3 lần vào dịp đám cưới công chúa Phương Liên. Ngày 14.9.1963, khi vừa từ thị trấn Brive cách điền trang 30 cây số trở về, Nam Phương Hoàng hậu cảm thấy đau họng. Viên bác sĩ được mời tới thăm cho rằng bà bị viêm họng nhẹ, chỉ uống thuốc vài ngày thì khỏi. Nhưng rồi cơn đau tiếp tục hoành hành vì chứng lao hạch tràng hạt. Trước khi người bác sĩ thứ hai kịp đến thì Hoàng hậu cuối cùng của vương triều Nguyễn, 49 tuổi, đã qua đời vì nghẹt thở. Bà ra đi trong sự cô đơn, lạnh lẽo, vì ngoài 2 người giúp việc nhà, không có người thân nào ở bên cạnh. Khi đó các con của bà đang đi học hoặc đi làm ở tận Paris, còn cựu hoàng Bảo Đại thì sống ở miền Nam nước Pháp.
            Được biết, trong đám tang của vợ cựu hoàng Bảo Đại không có mặt. Ngoài 2 hoàng tử và 3 công chúa thì không còn có người thân thích nào khác. Người quen đến dự đám tang thì có công chúa Như Lý, con gái vua Hàm Nghi, cùng vài viên chức Pháp tại địa phương. Mộ phần của bà được đặt tại nghĩa trang Chabrignac, với tấm bia đá mặt trước ghi bằng tiếng Pháp: “ICI REPOSE L'IMPÉRATRICE D'ANNAM NÉE MARIE THÉRÈSE NGUYEN HUU THI LAN” (Đây là nơi an nghỉ của Hoàng hậu An Nam nhũ danh Marie Thérèse Nguyễn Hữu Thị Lan). Mặt sau tấm bia khắc dòng chữ Hán: “Đại Nam Nam phương Hoàng hậu chi mộ” (Mộ phần của Hoàng hậu Nam Phương nước Đại Nam).                                                                                   

Hoàng thái hậu đất Gò Công

               Trong lịch sử Việt Nam, triều đại nhà Nguyễn trị vì 143 năm với 13 đời vua và 13 hoàng hậu. Trong đó, có 2 bà hoàng để lại những dấu ấn sâu đậm trong lòng người dân Việt vì đức độ và tấm lòng nhân hậu là Hoàng thái hậu Từ Dũ và Nam Phương Hoàng hậu. Cả hai bà đều sinh ra ở đất Gò Công, Tiền Giang.
            Hoàng thái hậu Từ Dũ là vợ vua Thiệu Trị (1807-1847) và là mẹ của vua Tự Đức. Bà tên thật là Phạm Thị Hằng, sinh ngày 19 tháng 5 năm Canh Ngọ 1810 tại làng Sơn Quy, huyện Tân Hòa, tỉnh Gia Định (nay thuộc xã Long Hưng, thị xã Gò Công, tỉnh Tiền Giang), là con gái của Lễ bộ Thượng thư Phạm Đăng Hưng và bà Phạm Thị Vị.
*Lăng Hoàng gia Gò Công được xây dựng vào năm 1826.
                                     
Theo Nguyễn Phúc tộc thế phả, thuở nhỏ bà thích đọc sách, thông kinh sử, tính tình rất hiếu hạnh, nổi tiếng xinh đẹp và thông minh. Năm 12 tuổi, mẹ bị bệnh, bà một mình lo cơm nước, thuốc men. Khi mẹ mất, bà than khóc mãi nên xa gần đều biết tiếng. Năm 14 tuổi, bà được Thuận Thiên Cao Hoàng hậu (vợ kế vua Gia Long) tuyển vào cung cho hầu Hoàng tử Nguyễn Phúc Miên Tông. Vì đức hạnh và tính tình thuận thảo nên rất được sủng ái. Năm Giáp Thân 1824, bà sinh Diêm Phúc công chúa, năm sau lại sinh công chúa Uyên Ý. Năm Kỷ Sửu 1829 bà sinh người con thứ 3 là Nguyễn Phúc Hồng Nhậm, tức Dực Tông Anh Hoàng đế (vua Tự Đức).
Bà là người kính cẩn nghiêm trang, cử chỉ hợp lễ. Những lúc có khánh hạ triều bái trong cung bà luôn giữ đúng lễ nghi, được mọi người kính nể. Năm 1841, khi Miên Tông lên ngôi (vua Thiệu Trị), bà được phong cung tần rồi 2 năm sau được phong thần phi. Đến năm Thiệu Trị thứ 6, bà được phong làm giai phi rồi nhất giai phi. Năm 1842, khi nhà vua ra Bắc làm lễ thụ phong, bà được theo hầu cạnh vua. Những tín vật và ấn triện vua đều giao cho bà cất giữ. Những đêm vua mãi đọc sách đến khuya, bà hầu cận không biết mệt mỏi, nhiều khi gà gáy sáng mới ăn cơm tối. Năm 1843 bà được phong làm thành phi, đến năm 1846 được phong quí phi.
Sử sách chép rằng Hoàng thái hậu Từ Dũ có tính nhớ dai. Những việc xưa trong sách hoặc những điều ghi chép trong văn thư bà chỉ cần đọc qua là nhớ ngay, mỗi khi vua hỏi bà đều trả lời chính xác. Ở trong cung bà luôn hết lòng nuôi dạy các hoàng tử và công chúa. Khi vua đau nặng bà kề cận ngày đêm, được vua căn dặn những việc về sau. Năm 1847 vua Thiệu Trị mất, con trai bà là Nguyễn Phúc Hồng Nhậm được chọn nối ngôi, lấy niên hiệu là Tự Đức. Sau khi lên ngôi, vua Tự Đức nhiều lần ngỏ ý tấn tôn cho mẹ nhưng bà luôn từ chối. Mãi đến năm 1849 bà mới nhận Kim bảo và tôn hiệu Hoàng thái hậu. Năm 1883, vua tự Đức mất để lại di chiếu tấn tôn bà làm Thái hoàng Thái hậu, nhưng vì lúc bấy giờ việc nước rối ren nên mãi đến năm 1885 vua Hàm Nghi mới làm lễ tôn phong bà theo di chiếu.

Theo Trần Trọng Kim kể lại trong “Việt Nam sử lược” thì: “Đức Từ Dũ thuộc sử sách đã nhiều mà biết việc đời cũng rộng. Mỗi khi Đức Từ Dũ ban câu chi hay thì vua Tự Đức biên ngay vào quyển giấy gọi là Từ Huấn Lục. Một hôm rảnh việc nước, vua ngự săn bắn tại rừng Thuận Trực, gặp phải khi nước lụt. Còn 2 ngày nữa là có kị Đức Hiến Tổ, mà ngài chưa ngự về. Đức Từ Dũ nóng ruột, sai quan đại thần Nguyễn Tri Phương đi rước. Nguyễn Tri Phương đi được nửa đường thì gặp thuyền ngự đang chèo lên, mà nước thì chảy mạnh, thuyền không đi mau được. Gần tối thuyền ngự mới về tới bến. Khi ấy trời đang mưa, mà ngài vội vàng lên kiệu trần đi thẳng vào cung, lạy xin chịu tội. Đức Từ Dũ ngồi xoay mặt vào màn, chẳng nói chẳng rằng chi cả. Vua bèn lấy một cây roi mây, dâng lên để trên ghế trát kỷ rồi nằm xuống xin chịu đòn. Cách một hồi lâu, Đức Từ Dũ xoay mặt ra lấy tay hất cái roi mà bảo rằng: “Thôi, tha cho! Đi chơi mà để cho quan quân cực khổ thì phải ban thưởng cho người ta, rồi sớm mai đi hầu kị”. Vua lạy tạ lui về và nội đêm đó ngài phê thưởng cho các quan quân đi hầu ngự”.
Sách sử cũng kể rằng Đức Từ Dũ thường thẳng thắn phê phán tệ tham ô, chức quyền trong triều chính. Bà nói: “Từ xưa đến nay quan lại chỉ một chữ tham mà chưa trừ được. Mọt nước hại dân cũng từ đó mà ra. Làm quan mấy năm người nào cũng giàu có gấp bội. Của ấy không lấy của dân thì lấy ở đâu? Nên phải quyết trừ”. Bà cũng khuyên vua Tự Đức rằng: “Người trong dòng họ chớ lo việc không được làm quan. Phải chuyên cần học hỏi, thi đậu vẻ vang gia tộc, chỉ sợ bất tài mà thôi. Đối với kẻ làm điều trái phép, hoàng đế nên triệu về kinh, nghiêm trị để làm gương…”
Trong khi đó thì bà rất quý trọng các trung thần, muốn triều đình có nhiều người như Võ Trọng Bình thanh liêm, Phạm Phú Thứ thẳng thắn và Nguyễn Tri Phương công trung mẫn cán, không từ nan việc mệt nhọc. Bà nói: “Nếu được nhiều người như vậy, đặt ra mỗi tỉnh một người thì việc nước, việc dân được bổ ích rất nhiều mà vua cũng khỏi lo nhọc ngày đêm. Ngặt vì còn có những quan tham bóc lột của dân không chán mà lại không biết hối cải”. Theo bà thì “của bất nghĩa sẽ không tồn tại, được vài đời đã khánh tận, sau con cháu cùng khổ, thiên hạ chê cười. Chi bằng làm điều nhân nghĩa, lưu truyền phước trạch lâu dài”.


Chuyện kể rằng khi Phạm Phú Thứ làm quan ở Viện Tập Hiền, chỉ vì khẳng khái can gián vua mê đàn hát, quên việc triều chính mà bị giáng chức cho xuống làm lính. Khi Đức Từ Dũ biết được, bà đã khuyên vua: “Chính ông Thứ mới là bề tôi trung, dám can vua. Còn kẻ xu nịnh, cúi đầu vâng dạ để lấy lòng bề trên, chắc gì họ hết lòng vì hoàng đế”. Nghe lời mẹ dạy, vua Tự Đức đã quỳ lại mẹ có tấm lòng nhân hậu và sau đó tha cho Phạm Phú Thứ.
Theo Nguyễn Phúc tộc thế phả thì bà là người có đức lớn, yêu nước, thương dân, là người vợ biết chăm lo cho chồng, người mẹ hiền nghiêm khắc răn dạy con. Những lời dạy của bà đều được vua Tự Đức ghi lại trong sách Từ Huấn Lục. Bà thường lấy chữ Khiêm mà khuyên răn. Bà mất ngày 22.5.1901, tức mùng 5 tháng 4 năm Tân Sửu (có tài liệu nói 12.5.1902, mùng 5 tháng 4 năm Nhâm Dần), thọ 92 tuổi, đươc an táng tại lăng Xương Thọ, Thừa Thiên-Huế. Ở Tiền Giang hiện nay có khu lăng Hoàng gia tọa lạc tại xã Long Hưng, thị xã Gò Công. Tại đây có mộ của Đức quốc công Phạm Đăng Hưng, là thân phụ bà Từ Dũ, ông ngoại vua của Tự Đức và nhà thờ họ Phạm, được xây cất vào năm 1826.